This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Ung thư gan: Các tiến bộ trong điều trị
Ung thư tế bào gan nguyên phát là một trong năm loại ung thư có tần suất và tỉ lệ tử vong cao nhất hiện nay trên thế giới, đặc biệt ở các nước châu Á (chiếm tổng số gần 75% số trường hợp trên thế giới). Sau đây là các phương pháp điều trị ung thư gan hiện nay trên thế giới và các tiến bộ trong những năm gần đây.
Thông thường bệnh nhân được phát hiện giai đoạn trễ (u có kích thước to, xâm lấn mạch máu hoặc di căn xa tới các cơ quan khác như: phổi, tuyến thượng thận…) nên hiệu quả điều trị rất kém. Hơn 90% ung thư tế bào gan liên quan tới viêm gan siêu vi B, siêu vi C và tình trạng xơ gan.
Một yếu tố cũng ảnh hưởng đáng kể tới việc chọn lựa phương pháp điều trị là chức năng gan còn lại. Tình trạng viêm gan mạn tính và xơ gan ảnh hưởng ít nhiều tới chức năng gan nên việc chọn lựa phượng pháp điều trị không thích hợp dẫn tới nguy cơ suy gan sau can thiệp điều trị.
Bên cạnh đó, tác dụng của các thuốc như: một số thuốc kháng viêm giảm đau, kháng sinh và ngay cả các thuốc đặc trị như: interferon, sorafenib… sẽ làm cho tình trạng gan xấu hơn nếu được chỉ định không thích hợp.
Các khối ung thư chưa di căn
Nhóm điều trị triệt để:
Phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở: với sự cải tiến thiết bị phẫu thuật, phẫu thuật nội soi cũng đựơc xem như một phương pháp ít xâm lấn nên tai biến và biến chứng giảm đáng kể và thời gian phục hồi nhanh. Tuy nhiên, vị trí khối u sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chỉ định làm phẫu thuật nội soi hay mổ hở.
Hủy u tại chỗ bằng nhiệt (gồm nhiệt nóng và nhiệt lạnh): dựa trên nguyên lý nhiệt độ cao (>60 - 800C) hoặc nhiệt độ thấp (< âm 200C) trong một thời gian nhất định thì tế bào sẽ bị phá hủy. Nhóm sử dụng nhiệt nóng bao gồm dùng sóng cao tần, sóng viba laser, và siêu âm cường độ cao. Nhóm sử dụng nhiệt lạnh là sử dụng CO2, Argon hoặc Helium… làm lạnh tế bào …
Tuy nhiên, việc hủy u bằng sóng cao tần được xem là phương pháp được công nhận và ứng dụng nhiều nhất trên toàn thế giới, đặc biệt hiệu quả đối với u < 3cm; hiện tại đã mở rộng chỉ định cho các khối u = 5cm do cải tiến thiết bị và kim chuyên dụng.
Điểm nổi bật ngoài hiệu quả hủy u là bảo tồn tối đa được chức năng gan còn lại, ít xảy ra tai biến và thời gian nằm viện ngắn. RFA có thể thực hiện hầu hết các vị trí trong gan và kim đốt có thể được quan sát bằng các phương tiện hình ảnh như siêu âm, máy chụp cắt lớp, máy chụp mạch máu hoặc màn hình nội soi ổ bụng.
Phương pháp hủy u bằng nhiệt lạnh hay còn gọi là phương pháp đông lạnh có ưu điểm là thời gian hủy u nhanh, tuy nhiên tai biến và biến chứng nhiều do khó kiểm soát được nhiệt lượng, đặc biệt nếu định vị không chính xác thì nguy cơ càng cao.
Chích cồn 990 hoặc acid acetid: được ứng dụng đối với u nhỏ <2cm và có ưu điểm là rẻ tiền nhưng phải thực hiện nhiều lần và bệnh nhân đau nhiều sau thủ thuật. Do hủy u bằng RFA ngày càng phát triển nên kỹ thuật này ngày càng ít được sử dụng.
Phẫu thuật nội soi cũng được xem như một phương pháp ít xâm lấn nên tai biến và biến chứng giảm đáng kể và thời gian phục hồi nhanh
Ghép gan: một trong những phương pháp điều trị triệt để hiệu quả nhưng việc ghép gan rất phụ thuộc vào nguồn gan cho và hiển nhiên chi phí rất cao lên đến hàng trăm ngàn USD cho một trường hợp.
Nhóm điều trị không triệt để: chỉ định chủ yếu cho nhóm bệnh nhân không được phẫu thuật hoặc hủy u bằng sóng cao tần.
Tắc động mạch gan có hoặc không có sử dụng hóa chất: người dân hay gọi bằng "tô xi" hay còn gọi "bơm hóa chất và bỏ đói khối u": nguyên lý là bằng một ống thông nhỏ luồn tại vị trí động mạch đùi lên tới nhánh nuôi u xuất phát từ động mạch gan và tiến hành bơm hóa chất và sau đó tắc mạch bằng lipiodol hoặc gelfoam.
Kỹ thuật này được thực hiện dưới máy chụp X-quang có xóa nền và thường thực hiện 3 - 4 lần trong năm. Chức năng gan còn lại rất quan trọng trong xét chỉ định TACE vì nguy cơ suy gan cao do độc tố của thuốc tại chỗ và toàn thân.
Truyền hóa chất định kỳ qua động mạch gan: lưu một đầu ống thông nhỏ tại động mạch gan và đầu còn lại nối với một cửa sổ để vào hóa chất nằm dưới da. Thông qua cửa sổ này, bệnh nhân sẽ được vào hóa chất định kỳ. Hiện nay phương pháp này ít được sử dụng trên thế giới do hiệu quả giới hạn và tác dụng phụ nhiều.
Đưa chất phóng xạ vào khối u qua động mạch gan: tương tự phương pháp TACE nhưng sử dụng chất phóng xạ để đưa vào trong khối u. Nguy cơ suy gan thường cao hơn so với phương pháp TACE kinh điển. Đối với ung thư tế bào gan, không có phương pháp chiếu xạ trong điều trị do gan luôn di động theo nhịp thở.
Khối u gan đã xâm lấn mạch máu hoặc di căn xa
Ngoài các phương pháp trên, nếu không có chống chỉ định, bệnh nhân được điều trị kết hợp bằng nghiệm pháp điều trị trúng đích như thuốc Sorafenib. Dựa trên cơ chế bệnh sinh của ung thư tế bào gan, thuốc Sorafenib ức chế men Multikinase nhằm vào Serine/Threonine và các thụ thể Tyrosine kinases để giảm bớt sự tăng trưởng của khối u và sự tân tạo mạch máu.
Theo một số báo cáo từ hội nghị APASL 2011 và CIRSE 2010, bước đầu ghi nhận đáng kể hiệu quả của thuốc và thuốc thường tác dụng tốt hơn trên người phương tây so với người châu Á. Tác dụng phụ như: 20% số ca có hội chứng da - tay - chân, 30 - 50% rối loạn tiêu hóa, < 5% cao huyết áp… cũng xảy ra.
Chống chỉ định sử dụng thuốc Sorafenib đối với chức năng gan kém như: nồng độ Bilirubin máu > 2mg/ml hoặc chỉ số xơ gan Child B lớn hoặc bằng 8 điểm. Đây là một trong những tiến bộ trong phương pháp điều trị ung thư.
Hiện nay Sorafenib là thuốc duy nhất được cho phép sử dụng như là hóa chất dùng cho toàn thân đối với ung thư tế bào gan. Điểm không thuận lợi là giá thành thuốc đặc trị rất cao và thời gian sử dụng phải kéo dài ít nhất 4 - 6 tháng để đánh giá hiệu quả điều trị và quyết định có tiếp tục sử dụng tiếp hay không.
Một tiến bộ khác là sử dụng hạt dẫn thuốc DC bead trong kỹ thưật TACE kinh điển. Hiện nay trên thế giới ngày càng ít thực hiện các trường hợp TACE kinh điển mà sử dụng DEB - TACE. Có nghĩa là thực hiện như một phương pháp TACE bình thường kèm các hạt BEAD.
Những hạt này đóng vai trò tải và giữ thuốc lâu trong khối u là tăng hiệu quả trong việc gây hoại tử u và giảm được tác dụng phụ trên toàn thân của hóa chất so với phương pháp TACE kinh điển. Tần suất thực hiện TACE sẽ giảm do đó việc bảo tồn chức năng theo thời gian sẽ kéo dài.
Các phương pháp điều trị nêu trên đã được thực hiện tại nhiều bệnh viện tại Việt Nam. Riêng kỹ thuật DEB- TACE đã được triển khai đầu tiên tại Việt Nam trong năm 2011.
Để thực sự hiệu quả trong điều trị ung thư gan phải tập trung điều trị trên nhiều phương diện thuộc nhiều chuyên khoa và tính ưu tiên của các phương diện này cần phải cần nhắc và điều chỉnh liên tục suốt quá trình điều trị và theo dõi. Các vấn đề bao gồm:
1. Điều trị khối u.
2. Điều trị viêm gan.
3. Điều trị xơ gan.
4. Điều trị các bệnh lý khác kèm theo như đái tháo đuờng, cao huyết áp, rối loạn tiêu hóa.
5. Dinh dưỡng của bệnh nhân.
Việc chọn lựa phương pháp điều trị cụ thể cho khối u, các điều trị phối hợp, phương pháp theo dõi lâu dài và sự hợp tác và tuân thủ nghiêm túc của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân sẽ là những yếu tố quan trọng góp phần kéo dài sự sống và tăng chất lượng sống khi đối diện với căn bệnh thế kỷ: ung thư gan!
Theo PGS.TS Nguyễn Hoài Nam - Sức khỏe và Đời sống
Phòng sán lá gan nhỏ do ăn cá
Ở Việt Nam, những loài cá đồng như: cá chép, cá rô, cá diếc, cá trôi... đều có thể bị nhiễm sán lá gan nhỏ và dễ dàng truyền bệnh cho người.
Khi người ăn cá sống như món gỏi cá, hoặc cá nấu chưa chín, ấu trùng sẽ theo thức ăn vào đường ruột gây bệnh.
Vì sao người bị nhiễm sán lá gan nhỏ?
Sán lá gan nhỏ C.sinensis có hình lá, thân dẹt, màu đỏ nhạt. Sán dài 10-12mm, rộng 2-4mm. Trên thân sán có cả bộ phận sinh dục đực và cái. Tinh hoàn chia nhánh, chiếm gần hết phía sau thân sán.
Buồng trứng ở khoảng giữa thân, tử cung chạy ngoằn ngoèo, trong chứa nhiều trứng. Trứng sán rất nhỏ, kích thước 16-17µm x 26-30µm, hình bầu dục, một cực có nắp giống hình chóp mũ, một cực phình to hơn giống chiếc lọ phình đáy. Trứng màu vàng sẫm, vỏ mỏng, nhẵn.
Chụp cắt lớp thấy sán lá gan nhỏ trong gan.
Sán lá gan nhỏ ký sinh ở các ống mật nhỏ trong gan, khi nhiều sán, chúng phá hủy nhu mô gan và ký sinh ở tổ chức gan. Sán sống bằng cách thẩm thấu các chất dinh dưỡng từ dịch mật.
Sán lá gan đẻ trứng tại các ống mật. Trứng theo mật xuống ruột và theo phân ra ngoài. Trứng sán cần môi trường nước để phát triển thành ấu trùng lông. Ấu trùng lông bơi tự do trong nước tìm tới ký sinh ở một số loài ốc để phát triển thành vĩ ấu trùng (ấu trùng đuôi).
Vào ốc, chúng sống ở phần ruột ốc. Sau đó vĩ ấu trùng rời ốc đến các loài cá nước ngọt để phát triển thành nang ấu trùng nằm trong các thớ thịt của cá, đây là giai đoạn dễ nhiễm bệnh cho người.
Ở Việt Nam, những loài cá chép, cá rô, cá diếc, cá mè, trôi... đều có thể là vật chủ trung gian của sán lá gan nhỏ. Khi người ăn cá sống (như món gỏi cá) hoặc cá nấu chưa chín kỹ, ấu trùng theo thức ăn vào đường ruột, di chuyển tới ống mật lên gan.
Khoảng 26 ngày sau chúng phát triển thành sán trưởng thành và gây bệnh. Loài sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis có thể sống trong cơ thể người 15-25 năm.
Tổn thương gan do sán
Sán gây những tổn thương nghiêm trọng ở gan, gây kích thích thường xuyên đối với gan, chiếm chất dinh dưỡng và gây độc. Do sán thường bám chặt vào ống mật, dùng mồm để hút thức ăn nên lâu dần gan sẽ bị xơ hóa lan tỏa ở khoảng cửa, tổ chức gan bị tăng sinh và có thể dẫn tới hiện tượng xơ hóa gan, cổ chướng, thoái hóa mỡ ở gan.
Mặt khác độc tố do sán tiết ra có thể gây nên các tình trạng dị ứng, đôi khi có thể gây thiếu máu. Gan bị to rõ rệt (có thể tới 4kg). Ở mặt gan có những điểm phình giãn, có màu trắng nhạt và tương ứng với sự giãn nở của ống mật.
Dấu hiệu mắc bệnh sán lá gan nhỏ
Biểu hiện của bệnh sán lá gan nhỏ phụ thuộc vào mức độ nhiễm và phản ứng của cơ thể người. Nếu nhiễm ít sán, thường không có triệu chứng gì đặc biệt. Trường hợp nhiễm sán lá gan nhỏ với số lượng trên 100 con thì bệnh biểu hiện qua 2 giai đoạn sau:
Giai đoạn khởi phát: bệnh nhân thường bắt đầu với các triệu chứng rối loạn dạ dày ruột như chán ăn, ăn không tiêu, đau âm ỉ vùng gan, tiêu chảy hoặc táo bón thất thường. Trên da có thể thấy phát ban, nổi mẩn ngứa.
Giai đoạn toàn phát: người bệnh đau vùng gan nhiều hơn, kèm theo thiếu máu, vàng da, cổ chướng có thể xuất hiện ở giai đoạn muộn. Nếu có bội nhiễm do vi khuẩn, bệnh nhân có thể sốt thành từng cơn hoặc sốt kéo dài.
Xét nghiệm phân có thể tìm thấy trứng sán, có giá trị chẩn đoán bệnh nhân đã mắc bệnh. Nếu không tìm thấy trứng sán, các xét nghiệm miễn dịch cùng với siêu âm, chụp cắt lớp vi tính... có giá trị chẩn đoán. Siêu âm vùng gan có thể phát hiện được sán lá gan và các tổn thương do sán lá gan.
Điều trị bằng thuốc đặc hiệu
Dùng thuốc diệt sán praziquantel liều 75mg/kg. Bệnh nhân mắc sán lá gan nhỏ cần phải được theo dõi điều trị tại các cơ sở y tế có chuyên khoa ký sinh trùng.
Các biện pháp phòng bệnh
Hiện nay, ở một số địa phương có tập quán ăn gỏi cá, nên tỷ lệ người nhiễm bệnh tăng cao, trung bình 20%. Bệnh thường gặp ở vùng nuôi cá bằng phân tươi và có tập quán ăn gỏi cá. Vì vậy, để phòng bệnh, cần thực hiện các biện pháp sau: ăn chín uống sôi, không ăn gỏi cá hoặc ăn cá nấu chưa chín. Món lẩu hải sản là thực đơn được nhiều người lựa chọn.
Tuy nhiên, bạn chỉ nên ăn cá và hải sản chín kỹ trong nồi lẩu. Do bệnh cũng thường lây cho chó mèo khi chúng ăn cá sống. Từ chó mèo nhiễm sán, bệnh dễ lây sang người qua đường tiêu hóa. Vì vậy, cần bảo vệ vật nuôi, không để chó mèo ăn cá sống. Có thể dùng thuốc tẩy sán cho chó mèo.
Bệnh sán lá gan có chu kỳ phức tạp qua 3 vật chủ, nên chỉ cần phá vỡ một khâu của chu kỳ là bệnh không thể lan truyền được, chẳng hạn diệt ốc. Quản lý phân hợp vệ sinh: không dùng phân tươi nuôi cá, bón ruộng. Cần ủ phân đúng quy định, không phóng uế bừa bãi.
Theo BS Bùi Thị Thu Hương - Sức khỏe và Đời sống
Điều trị bệnh gan do bia rượu
Chất độc được chuyển hóa từ bia rượu có thể gây tổn thương tế bào gan qua 3 giai đoạn gồm gan nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan.
Gan là cơ quan chuyển hóa rượu quan trọng, với trên 90% lượng rượu hấp thụ được chuyển hóa tại gan, phần còn lại thải ra ngoài qua phổi và thận. Tại gan, rượu chuyển hóa thành chất độc acetalhehyde, sau đó chuyển thành acetate không độc.
Tuy nhiên, khả năng chuyển hóa acetalhehyde thành acetate của gan có giới hạn. Nếu hấp thu lượng rượu vượt khả năng chuyển hóa của gan, lượng acetaldehyde sản sinh quá mức sẽ gây tổn thương tế bào gan, viêm gan, xơ gan.
Việc uống rượu thường xuyên mỗi khi tiệc tùng hay lễ Tết cũng ảnh hưởng tới sức khỏe, trong đó gan bị tổn thương nhiều nhất. Tổn thương này thường trải qua 3 giai đoạn.
Gan nhiễm mỡ
Gan đóng vai trò trung tâm trong sự tích trữ và chuyển hoá các chất béo. Gan nhiễm mỡ khi chất béo trong gan tích luỹ quá 5% trọng lượng gan hoặc nhiều hơn 5% tế bào gan chứa các hạt mỡ. Giai đoạn này thường không có triệu chứng lâm sàng, bệnh thường phát hiện tình cờ khi siêu âm ổ bụng hoặc khám sức khỏe.
Gan bình thường (trái) và gan nhiễm mỡ (phải).
|
Gan nhiễm mỡ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như rượu, rối loạn chuyển hóa, thuốc, rối loạn dinh dưỡng...Tình trạng gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu có thể thuyên giảm nếu ngừng uống, nếu không sẽ chuyển sang giai đoạn viêm gan.
Viêm gan
Viêm gan do rượu là bệnh lý tổn thương gan lan tỏa, biểu hiện bởi tình trạng thâm nhiễm tế bào viêm ở gan và hoại tử tế bào gan. Bệnh nếu để lâu dài sẽ dẫn đến xơ gan.
Viêm gan do rượu giai đoạn đầu thường không có triệu chứng lâm sàng. Một số trường hợp có thể mệt mỏi, chán ăn, sợ mỡ, đau tức vùng gan, vàng da. Xét nghiệm giai đoạn này thấy biểu hiện hủy hoại tế bào gan, siêu âm gan có dấu hiệu nhu mô gan thô hoặc hình ảnh viêm gan mạn tính.
Xơ gan
Xơ gan là tình trạng mô gan được thay thế dần bởi các mô xơ, làm thay đổi cấu trúc và suy giảm chức năng gan. Bệnh nhân xơ gan tiến triển giai đoạn mất bù có triệu chứng phù, cổ chướng, tuần hoàn bàng hệ và có nguy cơ ung thư gan cao.
Gan bình thường (trái) và gan bị xơ (phải).
|
Theo ThS Nguyễn Thị Thu Hương, BVĐK Medlatec, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh gan do rượu bia. Việc điều trị chủ yếu là khắc phụ triệu chứng. Do vậy, nam giới nên chủ động phòng bệnh bằng cách hạn chế rượu bia.
Tuyệt đối không uống rượu vào lúc đói khiến rượu hấp thu nhanh. Nếu buộc phải uống, nên vừa ăn vừa uống hoặc uống nước ép trái cây, nước cam, chanh để trung hòa cồn trong rượu và giải rượu nhanh chóng.
Theo An San - VnExpress
Sự cần thiết của việc giải độc cho gan
Gan thực chất chính là “nhà máy xử lý độc tố” của cơ thể, bảo vệ sự toàn vẹn các hoạt động của các chức năng khác.
Có hàng tỷ tế bào gan vẫn ngày đêm cần mẫn dọn dẹp độc tố cho cơ thể, vì vậy khi gan suy yếu, khả năng giải độc cơ thể sẽ giảm, nồng độ các chất độc trong cơ thể tăng lên rõ rệt và nguyên nhân gây nên nhiều bệnh lý như gan nhiễm mỡ, ung thư, tiểu đường, hôn mê gan, giảm trí nhớ.
Các tế bào gan do không không được bảo vệ sẽ dẫn đến bệnh xơ gan và ung thư gan, rối loạn chức năng gan.
Các nguyên nhân gây phá hủy tế bào gan do tiến trình viêm mãn tính như các siêu vi trùng A, B, C, D, E và ký sinh trùng; các chất độc (nhất là cồn…), hóa chất bảo vệ thực vật. Tất cả những người uống rượu nhiều và thường xuyên đều có nguy cơ bị bệnh ký xơ gan rất đáng kể (thời gian uống rượu càng lâu khả năng tổn thương tế bào gan và phát triển thành xơ gan càng cao).
Do ảnh hưởng quan trọng của gan với sức khỏe chung vậy cần phải quan tâm bảo vệ tế bào gan bằng cách hàng ngày hạn chế tối thiểu các độc tố được đưa vào cơ thể, nhất là các chất được coi là độc hại trực tiếp cho gan như cồn, thuốc lá, các loại hóa chất có khả năng gây tiêu hủy các tế bào gan, đồng thời cũng phải tăng cường khả năng giải độc và bảo vệ gan.
Các loại thực phẩm có lợi cho gan bao gồm 2 nhóm chủ yếu:
Nhóm thứ 1 là nhóm thực phẩm giúp thúc đẩy các tiến trình đào thải độc tố của gan.
Nhóm thứ 2 là nhóm chứa các chất chống lão hóa cao, với khả năng bảo vệ tế bào gan trong tiến trình thải độc tố thâm nhập vào cơ thể.
Những nhóm thực phẩm có nguồn gốc thiên nhiên hàng đầu thuộc nhóm 10 loại thực phẩm đã được công nhận là rất có lợi đối với gan như:
Tỏi và hành: Chứa allicin là chất cần thiết cho gan trong việc đào thải độc tố rất hiệu quả.
Các loại cải như bông cải trắng và bông cải xanh, bắp cải…: Những loại rau cải này chứa chất khử độc của gan. Ngoài ra chúng còn chứa chất Glucosinolate là chất có thể giúp gan sản xuất ra các men điều hòa tố cần thiết cho quá trình bài thải ra khỏi cơ thể các độc tố thâm nhập vào gan.
Vắt nước ép chanh tươi vào nước nóng: Uống nước chanh nóng vào mỗi buổi sáng giúp sạch gan và giúp thúc đẩy nhanh quá trình bài thải các độc tố. Nước chanh tươi ép cũng sản xuất dịch mật, giúp làm sạch dạ dày, ruột và kích thích quá trình đào thải chất độc ra khỏi cơ thể.
Các nhóm trái cây có chứa chất chống lão hóa quan trọng như: Mận, nho, các loại trái cây mọng nước như cam, quít, bưởi, dưa đỏ, táo, lê và đào giàu chất pectin có thể kết hợp với kim loại nặng trong cơ thể (nhất là ruột kết) và giúp quá trình bài tiết (việc này giúp cho gan giảm được gáng nặng và tăng cường khả năng giải độc.
Các chất chống lão hóa giúp bảo vệ các tế bào gan từ các gốc tự do được sinh sản một cách tự nhiên trong quá trình gan tiến hành đào thải chất độc.
Artichaut (Actiso) giúp gia tăng quá trình sinh dịch mật. Một trong những công việc của dịch mật là bài thải các yếu tố độc hại thông qua đại tiện và ức chế nhóm vi trùng gây hại.
Các loại rau củ có vị đắng như bồ công anh, rau diếp quăn, cải đắng (rau đắng), khổ qua (mướp đắng)… Vị đắng của các nhóm thực phẩm có nguồn gốc rau củ này có khả năng giúp kích thích sự vận chuyển của dịch mật trong gan, mà hỗ trợ cho việc giải độc cho gan có hiệu quả tốt.
Các nhóm thực phẩm được coi là giúp giải độc gan tốt cũng có nguồn gốc thực vật thiên nhiên như cà rốt, mật ong, lá trà…do nhiều chất polyphe-nols, đường và vitamin C với tác dụng hiệu quả giúp quá trình bài tiết chất độc ra khỏi cơ thể và nhất là có khả năng loại thải các tế bào gây khối u ác tính (hay tế bào gây bệnh ung thư).
Ngoài ra nguồn thực phẩm giàu chất đạm như thịt, cá đầy đủ sẽ giúp cơ thể chúng ta chống lại hiện tượng nhiễm trùng từ hệ thống miễn dịch có hiệu quả. Cơ thể có hệ thống miễn dịch tốt khi được cung cấp đầy đủ các amino acids cần thiết để tổng hợp nên kháng thể. Khí quá trình tổng hợp chất đạm trong cơ thể bị suy giảm thì khả năng giải độc cho gan cũng giảm.
Thức ăn là nguồn mà mọi người có thể tiếp cận và nhanh trong bữa ăn thường ngày, một vài loại đặc biệt trong những dạng thức ăn có thể giúp gan loại được chất độc và hỗ trợ tăng cường chức năng gan trong cuộc sống cơ bản hàng ngày. Khi có được lá gan khỏe mạnh sẽ giúp cho chúng ta luôn cảm nhận được sự khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần.
Tẩy độc gan bằng nước gạo lứt rang
Gạo lứt đã là cứu tinh cho biết bao nhiêu người bệnh nặng, ung thư…Thế nhưng, dùng nước gạo lứt rang để tẩy độc cho gan là điều ít ai ngờ đến.
Từ một câu chuyện: “Một người đàn ông tên Thoa đã bị mổ lấy túi mật vì mật có quá nhiều sạn. Bác sĩ cũng cho biết lá gan của ông đã bị chai, và y khoa hiện tại không có thuốc chữa.
Họ chỉ cho ông uống thuốc cầm chừng để thay thế lá mật đã cắt đi và thuốc bổ gan. Người của ông càng lúc càng sụt đi, da và mắt vàng như nghệ. Cả nhà đều buồn! Ông tuyệt vọng. May có người chỉ cho ông uống nước gạo lứt rang với công dụng giúp gan giải trừ độc tố và giúp cơ thể tươi nhuận hơn.
Bệnh của ông đã liệt vào hàng “Thầy chạy”, “Thôi thì ai chỉ gì cũng thử, vả lại cũng chẳng hao tốn gì?. Ông uống liên tục trong 3 năm dùng nước gạo lứt thay thế thức uống cho trà, cà phê, nước ngọt…
Như một phép lạ! Da và mắt của ông không còn vàng nữa, trong người không còn cảm giác uể oải và bực bội. Nước da của ông trở nên hồng hào và tươi sáng hơn bao giờ hết. Đi khám bác sĩ lại, từ bác sĩ cho đến y tá, ai nấy đều ngạc nhiên. Con người của ông như đã tái sinh. Họ xúm nhau đến hỏi xem ông đã uống gì mà hay vậy. Câu trả lời duy nhất là nhờ uống nước gạo lứt rang.
Cách uống nước gạo lứt rang để giải đọc gan
Công thức: 1 muống canh gạo rang cho một lít nước.
Cách rang: Cho lên chảo, để nhỏ lửa, nhớ dùng đũa khuấy nhẹ và đều, vì nếu để yên một chỗ khá lâu hạt gạo sẽ bị cháy, hoặc nở bung ra.
Nếu không có thì giờ rang bằng chảo trên bếp, có thể dùng máy rang bắp (pop corn), rang 5 phút là được. Cách này chỉ thích hợp với gạo lứt tròn thôi (nếu gạo lứt dài, phải rang bằng chảo).
Cách nấu: Cho gạo lứt đã rang vào nồi, thêm nước.
Nấu với lửa nhỏ, khoảng 2-3h, lọc lấy nước uống dần trong ngày.
Nếu không có điều kiện nấu, cho gạo lứt đã rang vào bình thủy, đổ nước sôi, để qua đêm, đến sáng là có nước để uống dần trong ngày.
Tổng kết kinh nghiệm do những người đã dùng nước gạo lứt rang:
Sau 1 tháng, bạn sẽ thấy nước da bạn sáng nhuận, không còn khô nhám. Các chị nhiều khi không cần phải xài kem dưỡng da vì da đã trở nên láng tự nhiện.
Trong người khỏe không còn mệt mỏi, uể oải. Nửa đêm hay buổi sáng sớm thức dậy rất tỉnh táo, thiền lâu tốt.
Uống nước gạo lứt khoảng 3, 4 tuần bạn sẽ thấy trong người nóng, lở miệng… xin đừng sợ, cứ tiếp tục vài ngày là hết. Sau đó, cơ thể tự điều hòa trở lại bình thường và bạn không còn bị nóng nữa.
Những người lớn tuổi không còn bị tiểu đêm, dù uống một ngày 5, 6 ly nước gạo lứt.
Mọi người đều cảm thấy thân thể ấm áp không còn cảm giác ớn lạnh khi ra ngoài dù trời lạnh và nhiệt độ xuống thấp.
1.Nên dùng gạo lứt hạt tròn.
2.Không nên rửa gạo lứt trước khi rang, vì nếu làm như vậy sẽ làm cho người nóng hơn bình thường. Cơ thể mát là tốt nhất.
3.Nên uống nước gạo lứt rang ở độ nóng thích hợp với mình từ 2-3 ly một ngày. Nước gạo lứt rang không nên để lâu trong nồi quá 1 ngày, vì sẽ làm nước bị đục và có thể bị thiu. Vậy nếu dùng không hết, hoặc không có bình thủy, nên sớt ra, để nguội và cất trong tủ lạnh. Trước khi uống chỉ việc hâm nóng là được.
4.Xác gạo lứt khi nấu xong không nên bỏ, vì có thể ăn như cháo và làm nhẹ bụng. Người mới bệnh dậy, hoặc đầy bụng, hoặc chán ăn không biết ăn gì (vì quá thừa thãi), cứ ăn vài ngày để giúp bao tử làm việc nhẹ nhàng, sẽ tạo sự thèm và thích ăn.
Phương pháp tẩy độc cho gan bằng nước gạo lứt rang tuy đơn giản nhưng hiệu quả của nó rất lớn. Muốn cho gan của chúng ta được thanh lọc, mỗi tháng nên uống theo cách này khoảng 10 ngày, quý vị sẽ có thể nhận thấy “Cuộc đời vẫn đẹp sao”.
Theo Lương y Hoàng Duy Tân - Y học phổ thông
Loại thuốc mới điều trị bệnh viêm gan B
Hai công trình nghiên cứu quốc tế vừa cho thấy dược phẩm telbivudine có khả năng tiêu diệt loại virus phá hủy gan nhanh hơn và hiệu quả hơn so với các loại dược phẩm khác đang sử dụng.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với người dân châu Á, nơi sinh sống của 80% bệnh nhân viêm gan B trên thế giới.
Tổ chức Y tế thế giới cho biết, trên thế giới có khoảng 360 triệu người nhiễm bệnh viêm gan B và mỗi năm có khoảng một triệu người chết vì căn bệnh này. Những người bị viêm gan mãn có nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan.
Viêm gan B là một trong mười nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trên toàn thế giới.
GS C.L.Lai, chủ nhiệm khoa Bệnh gan tại trường đại học y khoa Hồng Công cho biết: Loại thuốc mới telbivudine được kỳ vọng sẽ giảm số người mắc bệnh viêm gan B cũng như giảm số người chết vì căn bệnh này. Bệnh viêm gan B có thể phòng được bằng cách tiêm vắc - xin; tuy nhiên, có tới 25- 40% số người trên toàn thế giới mắc bệnh và cuối cùng chết vì ung thư gan hoặc xơ gan.
Các triệu chứng của viêm gan B như vàng da, mệt mỏi, đau bụng, chán ăn, buồn nôn và đau khớp không hề xuất hiện ở trong 30% số người mắc bệnh, đặc biệt là ở trẻ em.
Phần lớn bệnh nhân viêm gan B bị nhiễm virus ngay từ khi còn trong bào thai hoặc khi còn rất trẻ. Gần 80% bệnh nhân viêm gan B ở châu Á. GS C.L.Lai ước tính chỉ có chưa đến 10% bệnh nhân viêm gan B trên toàn thế giới có dùng thuốc điều trị bệnh.
Một nghiên cứu trên 1.367 bệnh nhân viêm gan B tại 20 nước đã tiến hành so sánh kết quả điều trị giữa một nhóm bệnh nhân dùng dược phẩm telbivudine với một nhóm khác dùng dược phẩm lamivudine.
Các nhà khoa học nhận thấy dược phẩm telbivudine (do hãng Novartis AG và Idenix hợp tác sản xuất) giảm lượng virus nhanh hơn. Sau 52 tuần, những người dùng telbivudine giảm được số virus trong máu nhiều hơn gấp mười lần so với những người dùng lamivudine (do hãng GalaxoSmithKlein PLC sản xuất).
Ngoài ra, tỷ lệ phần trăm bệnh nhân không còn tìm thấy DNA của virus viêm gan B trong máu ở nhóm sử dụng telbivudine cao hơn so với nhóm sử dụng lamivudine.
Kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y khoa có tên là The New England Journal of Medicine, số tháng 12/2007.
Một nghiên cứu biệt lập khác được công bố trên tờ Tập san nội khoa số tháng 2-2007 đã so sánh 135 bệnh nhân viêm gan B ở tám nước sử dụng dược phẩm telbivudine và một loại dược phẩm khác vẫn được dùng để điều trị viêm gan B là adefovir (do hãng Khoa học Gilead sản xuất) hoặc được dùng cả hai loại dược phẩm này.
Các kết quả cho thấy, một lần nữa, nhóm sử dụng dược phẩm telbivudine có dấu hiệu giảm DNA virus viêm gan B trong máu cao hơn so với nhóm sử dụng dược phẩm adefovir cả ở giai đoạn đầu, giữa và cuối phác đồ điều trị. Dược phẩm telbivudine cũng có tác dụng giảm số lượng virus ở cả những bệnh nhân chuyển đổi dùng thuốc.
Theo Khoahoc.com.vn
Nhận biết căn bệnh xơ gan dễ dàng nhất
Xơ gan là bệnh tiến triển từ từ, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn.
Xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em. Đây là bệnh tiến triển từ từ, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, cần phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.
| Nhận biết căn bệnh xơ gan dễ dàng nhất. |
Bệnh khi còn ở giai đoạn sớm, các triệu chứng của bệnh rất nghèo nàn. Người bệnh chỉ thấy hơi đau ở hạ sườn phải, bụng trướng nhẹ, xuất hiện sự giãn các vi mạch ở cổ, mặt...
Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng, người bệnh vẫn lao động, học tập bình thường. Giai đoạn này có thể chỉ vài tuần, có khi kéo dài vài tháng, thậm chí vài năm.
Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám, không có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý. Nhiều người vẫn dùng rượu bia, thuốc lá, sử dụng những chất không có lợi cho gan... làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo.
Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn muộn thì bệnh có những biểu hiện rõ rệt nhất.
Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện
Người bệnh dễ bị chảy máu dưới da và niêm mạc, như chảy máu cam, chảy máu chân răng. Một số trường hợp da sạm đen do lắng đọng sắc tố hoặc vàng mắt, vàng da kèm theo ngứa, nhất là trường hợp xơ gan do ứ mật.
Cùng với đó, triệu chứng phù thũng là biểu hiện rõ rệt nhất của xơ gan.
Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Ngoài ra, xơ gan cũng ảnh hưởng đến chức năng nội tiết của cơ thể. Nam giới có biểu hiện giảm ham muốn tình dục, teo tinh hoàn, vú to ra. Nữ giới rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh.
Nếu để phát triển tới giai đoạn muộn thì có đến 60% tử vong trong năm đầu tiên, trên 80% tử vong trong vòng 2 năm và chỉ 6% sống quá 3 năm. Bệnh nhân tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.
Theo Thanh Lê - Khỏe và Đẹp


Thứ Bảy, tháng 6 06, 2015
doanh nhan