Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Những loại thực phẩm tốt cho lá gan của bạn

Một khi lá gan bị giảm chức năng nó sẽ gây ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan và hoạt động của toàn bộ cơ thể (chức năng lọc máu, tiêu hóa, kèm theo đó là sức đề kháng của người bệnh bị giảm, độc tố trong máu, trong tế bào cao… sẽ làm phát sinh rất nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư). Vậy những thực phẩm tốt cho lá gan là gì?
Tỏi giúp làm sạch lá gan của bạn
Tỏi là một trong những thực phẩm tốt nhất mà tự nhiên làm sạch gan của bạn. Nó giúp ức chế các enzym có thể tuôn ra độc tố. Allicin và selen tìm thấy trong tỏi giúp giữ cho gan sạch sẽ và khỏe mạnh. Bạn có thể chế biến nhiều món ăn với loại gia vị này, vừa thơm ngon lại tốt cho gan.
Những loại thực phẩm tốt cho lá gan của bạn, giúp bạn giải độc hiệu quả.
Những loại thực phẩm tốt cho lá gan của bạn, giúp cơ thể bạn giải độc hiệu quả.

Quả óc chó giúp hỗ trợ thải độc gan

Quả óc chó chứa nhiều arginine, một axit amin giúp giải độc amoniac. Nó cũng có nhiều axit béo omega-3 và glutathione hỗ trợ các hoạt động thải độc của gan.
Trà xanh giúp nâng cao khả năng thải độc gan
Trà xanh có chứa catechin là chất chống ôxy hóa, giúp nâng cao khả năng giải độc của gan.
Táo giúp gan nhanh chóng loại bỏ chất thải độc hại
Trong quá trình thanh lọc, gan phải có khả năng xử lý độc tố vào cơ thể. Táo chứa một lượng lớn pectin và các thành phần hóa chất khác, giúp đỡ gan nhanh chóng làm sạch và loại bỏ chất thải độc hại không mong muốn ra khỏi hệ tiêu hóa.
Củ cải đường giúp giảm tình trạng viêm trong gan
Củ cải đường có chứa các chất anthocyanidin, chất chống oxy hóa nên có tác dụng chống lại các khối u, hạn chế tác hại của các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo và giảm tình trạng viêm trong gan.
Atisô làm sạch độc tố trong cơ thể qua gan
Loại thực phẩm này thực sự giúp làm tăng sản xuất mật, từ đó có thể làm sạch các độc tố trong cơ thể qua gan.
Dầu oliu giúp giảm bớt gánh nặng cho gan
Dầu hữu cơ được ép lạnh từ oliu, cây gai dầu và hạt lanh rất tốt cho gan nếu sử dụng thường xuyên. Dầu oliu cung cấp chất lipid có thể hút được các chất độc hại trong cơ thể. Bằng cách này, dầu oliu giúp giảm bớt gánh nặng cho gan trong việc đào thải độc tố.
Phương Vũ

Đừng chủ quan khi gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ là bệnh lý khó nhận biết. Chỉ khi những biến chứng nặng hơn thì người bệnh mới đi khám và phát hiện bệnh.

Gan nhiễm mỡ là căn bệnh xảy ra với 10 - 25% dân số thế giới và có xu hướng ngày càng gia tăng, cùng tỉ lệ biến chứng thành xơ gan và ung thư gan ngày càng cao. Nguyên nhân chủ yếu là do sự chủ quan trong việc điều trị bệnh gan nhiễm mỡ.

Hình ảnh mô phỏng gan bình thường và gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ được xác định khi lượng mỡ tích lũy vượt quá 5% trọng lượng gan và trong tế bào gan chứa nhiều không bào mỡ. Đây là bệnh lý khó nhận biết do ít có biểu hiện sớm, chỉ khi những biến chứng trở nên trầm trọng thì người bệnh mới tá hỏa đi khám và phát hiện bệnh. 

Nghiêm trọng hơn, nếu không được chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa kịp thời gan nhiễm mỡ sẽ dẫn tới một chuỗi bệnh lý về gan như viêm gan, xơ gan, thậm chí là ung thư gan.

Tại sao dễ mắc gan nhiễm mỡ?
Trong thực tế, rất ít người ý thức được việc cần duy trì một chế độ ăn uống sinh hoạt, tập luyện hợp lý, hạn chế rượu bia. Do đó nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh gan nhiễm mỡ là việc nghiện rượu bia, thói quen hấp thụ một lượng lớn chất béo trong các bữa ăn, dẫn đến béo phì, tiểu đường, mỡ máu cao... 

Hoặc người bệnh sử dụng thuốc tân dược gây tác dụng phụ tới gan trong một thời gian dài như corticoid, thuốc ngừa thai, amiodarone, tamoxifen... làm rối loạn chuyển hóa mỡ trong gan. Những người gầy, suy dinh dưỡng hoặc giảm cân quá nhanh cũng có nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ.
Gặp "hung thần" ung thư do chủ quan trong điều trị
Gan nhiễm mỡ phần lớn là lành tính, nhưng hầu hết người bệnh không có thói quen khám bệnh định kì, chủ quan trong việc điều trị nên bệnh tiến triển nặng hơn gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Đặc thù của bệnh gan nhiễm mỡ là phải xét theo nguyên nhân để xác định tình trạng nguy hiểm của bệnh.
GS.TS Hoàng Kim Huyền, nguyên trưởng Bộ môn Dược lâm sàng - ĐH Dược Hà Nội nhận định: " Khi người bệnh đã mắc xơ gan, oxy hoá acid béo ở gan giảm, tế bào gan bị huỷ hoại, chức năng gan suy giảm rất dễ biến chứng thành ung thư gan. 

Ngoài ra, trong quá trình phát triển từ gan nhiễm mỡ đến xơ gan và thành ung thư gan, chất cồn chính là tác nhân chủ yếu. Bản thân gan nhiễm mỡ và ung thư gan có sự liên quan không nhiều, nhưng nếu uống rượu trong thời gian dài không những gây ra gan nhiễm mỡ, mà còn gây ra ung thư gan. 

Những bệnh nhân gan nhiễm mỡ do nghiện rượu, hoặc trong quá trình điều trị vẫn tiếp tục sử dụng rượu, và thờ ơ để bệnh diễn tiến thành xơ gan có nguy cơ biến chứng ung thư gan cao."
Cần làm gì để can thiệp và ngăn chặn những biến chứng?
Tùy theo nguyên nhân gây ra Gan nhiễm mỡ và tình trạng cụ thể của người bệnh mà có hướng điều trị cụ thể:
Nếu nguyên nhân là do béo phì thì bệnh nhân chỉ cần áp dụng chế độ ăn uống hợp lý như hạn chế ăn đồ ăn nhiều dầu mỡ, cay nóng và tập thể dục giảm cân. Tuy nhiên cũng chú ý không nên giảm cân quá nhanh.
Nếu nguyên nhân do nghiện rượu bia, thì bệnh nhân phải ngưng uống rượu bia ngay bởi nếu không tình trạng bệnh sẽ ngày càng nặng, khả năng phát triển thành xơ gan và ung thư gan nhanh hơn rất nhiều.
Nếu nguyên nhân do uống các thuốc có khả năng gây độc cho gan thì phải thay thế bằng những loại thuốc an toàn theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nguyên nhân là do bệnh nhân có tiền sử viêm gan siêu vi thì cần kiểm soát tình trạng viêm và những diễn tiến bất lợi dẫn đến xơ gan.

Theo PV - Kiến thức

Đừng để thuốc hại gan

Thuốc luôn là con dao hai lưỡi, trị bệnh nhưng cũng có thể hại người, nhất là đối với gan - "lò lọc rác thải" của cơ thể



Nhiễm độc gan do thuốc là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan do thuốc gây ra. Hậu quả là chức năng gan bị kém, tiêu hoá không thực hiện được và lâu dần dẫn tới suy gan. Không chỉ đảm nhận vai trò thải độc, gan còn là bộ phận duy nhất sản xuất ra mật giúp tiêu hoá mỡ. Bởi vậy, song song với việc uống thuốc trị bệnh hãy học cách bảo vệ gan.
Dưới đây là 7 đối tượng cần cẩn trọng:
1. Bệnh nhân viêm gan virus
Ở bệnh nhân viêm gan virus (nguy hiểm nhất là viêm gan B và C), các tế bào đang bị tổn thương và dễ bị chết, màng tế bào không còn khả năng bảo vệ trọn vẹn. Vì thế trên nền viêm gan virus, thuốc càng dễ hủy hoại tế bào gan hơn.
Chỉ cần một lượng nhỏ thuốc "kỵ" gan thì gần như sẽ tạo ra một tác động cộng hưởng, các tế bào sẽ bị viêm đồng loạt, hoại tử đồng loạt và chết hoàn toàn.
Vì thế mà cần chú ý kiểm tra virus viêm gan trước khi có ý định dùng thuốc trị bệnh. Trong nhiều trường hợp, nên điều trị xong bệnh viêm gan virus trước khi quyết định điều trị bệnh khác.
2. Người xơ gan
Xơ gan xảy ra khi các tế bào gan khoẻ mạnh đã hoại tử và bị thay thế bằng những dải xơ sợi không chức năng. Những tế bào gan còn lại bị chia cắt, cô lập nên khó đảm nhận chức năng vốn có của nó. Lúc này thể trạng bệnh nhân thường mệt mỏi, dễ chảy máu, da khô xơ xác, gầy còm, cơ bắp teo. Việc thải độc cho cơ thể lúc này trở thành một gánh nặng cho gan.
Nếu lúc này bạn đưa những loại thuốc có thể ảnh hưởng đến gan vào cơ thể thì chả khác nào "đầu độc" gan của mình. Cũng bởi thế mà những người có xơ gan hay mới có dấu hiệu xơ gan thường được khuyến cáo cẩn thận khi dùng thuốc. Rất nhiều khả năng thuốc sẽ bị tích luỹ tại gan và làm cho gan xơ hoá nặng hơn.
3. Người nghiện rượu
Ngoài việc gây ra bệnh lý trên dạ dày, tụy, thần kinh, rượu còn gây bệnh lý trên gan mật, khiến gan bị viêm nặng và gây ra gan nhiễm mỡ, xơ gan.
Viêm gan do rượu sẽ mở đường cho thuốc tấn công tế bào gan một cách dễ dàng. Rượu phá huỷ màng tế bào, khiến thuốc dễ ngấm vào trong hơn; phá huỷ các ty thể bên trong tế bào làm mất hệ thống khử độc của tế bào gan; và cuối cùng, rượu làm mất chức năng khử độc của các enzyme đặc hiệu trong gan.
4. Bệnh nhân tim mạch
Tim là cơ quan giúp lưu thông máu từ gan nên người bị bệnh tim, nhất là suy tim phải rất dễ bị ứ máu lại tại gan. Khi máu bị ứ lại, gan sẽ bị to ra, giãn các mạch máu nội bộ và làm cho tế bào sẽ bị thoái hoá dần. Đây chính là do mà bệnh suy tim thường hay bị nhiễm độc gan do thuốc.
Khi phát hiện các biểu hiện giãn tĩnh mạch, xuất hiện các tĩnh mạch ở phía bên của thành bụng, bạn cần xem lại tất cả các thuốc đang sử dụng. Vì khi đó, lá gan của bạn đang kêu cứu.
5. Sau phẫu thuật
Các cuộc phẫu thuật ít nhiều đều làm ảnh hưởng, thậm chí gây tê liệt hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Nó can thiệp vào hệ thần kinh phó giao cảm và làm cho hệ này bị giảm hoạt động hầu như trong 3 ngày đầu tiên. Gan ruột là những cơ quan phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Gần như tất cả những người sau phẫu thuật đều bị chướng bụng, khó tiêu và thậm chí là không tiêu trong 3 ngày đầu này.
Thuốc vì thế mà cũng rất dễ huỷ hoại gan trong thời gian sau phẫu thuật. Đơn giản là vì sự suy giảm hoạt động của hệ thần kinh phó giao cảm làm gan giảm chức năng chuyển hoá và thải trừ thuốc. Vì thế mà thuốc dễ bị tích lũy và gây độc cho tế bào gan. Tính từ khi phẫu thuật xong, phải mất gần 2 tuần chức năng gan mới bình phục.
6. Suy dinh dưỡng và thiếu chất
Gan không chỉ cần dinh dưỡng để tái tạo tế bào mà còn cần chúng để tham gia chức năng thải độc. Một trong các chất thải độc quan trọng là acid glucuronic. Chất này có tác dụng kết hợp với chất độc để tạo thành phức hợp hoà tan và thải ra ngoài. 
Tương tự, muốn chuyển thuốc thành những dạng không độc thì bản thân tế bào gan phải có đầy đủ hệ enzyme oxy hoá khử Cyt P450. Những thành phần này không thể được hình thành đầy đủ nếu cơ thể bị thiếu chất và suy dinh dưỡng.
Cơ thể không đủ nguyên liệu để chuyển hoá thuốc, tất dẫn đến thuốc tích luỹ và nhiễm độc. Cho nên, những người này cần thiết phải được điều chỉnh liều lượng thuốc khi sử dụng.
7. Dùng quá nhiều thuốc
Bạn cần nhớ số lượng tế bào gan chỉ có hạn cũng như bộ phận chuyển hoá thuốc trong gan chỉ có thể làm việc trong một giới hạn nhất định. Nếu bạn thường xuyên phải dùng thuốc cũng khiến gan bị quá tải và đương nhiên nhiễm độc gan xảy ra. Điều này càng tổn hại hơn nếu như các thuốc đang sử dụng là những thuốc "đầu độc" gan.
Thông thường với một liệu trình trị bệnh, số thuốc sử dụng chỉ giới hạn trong 3-4 loại thuốc trở lại. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau, số lượng này có thể tăng lên. Có không ít bệnh nhân, vì đi khám nhiều nơi và uống theo nhiều loại thuốc nên một ngày có thể uống tới 20 viên thuốc đủ các loại khác nhau. Đây thực sự là một gánh nặng cho gan. Khi số lượng thuốc đạt từ 5 loại thuốc trở lên thì cần xem xét bảo vệ tế bào gan.

Chữa viêm gan virut C, khó nhất là gì?

Có khoảng 200 triệu người nhiễm virut viêm gan C (HCV) trên thế giới và mỗi năm có thêm 3 - 4 triệu người mắc mới. Tuy nhiễm HCV là một bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn, nhưng có tới 50 - 80% trường hợp trở thành mạn tính và 50 - 70% các trường hợp ung thư gan là có sự liên quan tới virut viêm gan C. 
Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về các loại thuốc điều trị HCV và lý do vì sao bệnh trở thành mạn tính và khó điều trị.
Các thuốc hiện nay trong điều trị bệnh
Những người mắc viêm gan C không điều trị hiếm khi thanh thải virut tự nhiên trừ khi tình trạng miễn dịch bị thay đổi. Ở các bệnh nhân nhiễm virut viêm gan C mạn, mục tiêu điều trị là diệt trừ virut, ức chế virut sao chép lâu dài và giảm tình trạng viêm gan. Điều trị viêm gan C mạn đã có nhiều tiến triển trong thập niên vừa qua, đầu tiên các liệu trình interferon ngắn hạn đã làm giảm nồng độ men ALT trong huyết thanh, giảm nồng độ HCV và làm giảm tình trạng viêm gan. 
Tuy nhiên diệt trừ virut không xảy ra và phần lớn bệnh nhân tái phát sau khi ngừng thuốc. Sau này liệu trình phối hợp interferon và ribavirin có khả năng diệt trừ virut ở 40% các bệnh nhân. Kể từ năm 2002, liệu pháp Peg - Interferon kết hợp với ribavirin cho tỷ lệ đáp ứng virut học kéo dài trên 50% các bệnh nhân đã dần thay thế các chế độ điều trị cũ.
Chữa viêm gan virut C, khó nhất là gì?
​Hình ảnh virut viêm gan C.
Peg - interferon
Peg - interferon là sự phối hợp giữa interferon với polyethylen glycol, còn gọi là pegylate hóa, làm thanh thải thuốc chậm đi và do đó phơi nhiễm kéo dài với nồng độ thuốc cao hơn, nên chỉ dùng 1 tuần một lần.
Có hai loại peg - interferon là peg - interferon α - 2a và peg - interferon α - 2b có tỷ lệ đáp ứng virut duy trì dao động trên 36% tùy theo genotype. Điều trị phối hợp với ribavirin cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn, trên 50%. Trường hợp bệnh nhân chống chỉ định dùng ribavirin có thể được điều trị bằng peg - interferon. Hai loại peg - interferon khác nhau ở trọng lượng phân tử nên việc tính liều điều trị sẽ khác nhau trên từng bệnh nhân.
Các tác dụng phụ: phần lớn các tác dụng ngoại ý là ở mức độ nhẹ và trung bình không cần hạn chế điều trị. Các tác dụng phụ hay gặp là đau nơi tiêm, mệt, ớn lạnh, sốt, đau khớp, triệu chứng giống cúm, trầm cảm..., ngoài ra có thể gặp giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, phát ban, tăng cảm giác, nhìn mờ, lú lẫn, rong kinh, táo bón, rối loạn tâm thần...
Ribavirin
Ribavirin được phát hiện vào năm 1972, là một chất tương tự guanosine có phổ hoạt tính rộng chống lại các virut RNA và DNA gồm cả các flaviviridae như virut viêm gan C. Ribavirin có vai trò quan trọng trong phác đồ phối hợp với peg - interferon trong suốt quá trình điều trị.
Ribavirin có tác dụng làm tăng đáp ứng cytokin kiểu 1 và đáp ứng tăng sinh tế bào T gây độc tế bào. Ribavirin có thời gian bán thải 44 - 49 giờ sau liều duy nhất và sẽ tăng cao sau khi dùng lâu dài, bởi thế sự thanh thải ribavirin cần nhiều tuần sau khi ngừng thuốc. Thanh thải ribavirin giảm nhiều ở bệnh nhân suy thận nên không dùng ở bệnh nhân có độ thành thải creatinin < 50ml/phút.
Các tác dụng phụ hay gặp là gây tan máu, ngoài ra còn gây quái thai do đó không được dùng cho phụ nữ mang thai.
Không dùng peg - interferon và hoặc ribavirin ở bệnh nhân viêm gan virut C mạn tính.
Chống chỉ định tuyệt đối với bệnh nhân xơ gan mất bù, bệnh tự miễn, rối loạn nhịp tim, bệnh thiếu máu và thiếu máu cục bộ, suy thận, phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em dưới 18 tuổi.
Cần thận trọng khi dùng cho các tương đối: thiếu máu 3 dòng, bệnh nhân có các rối loạn tâm thần, các rối loạn co giật.
Hướng điều trị mới
Kết hợp nhiều loại thuốc và nhiều cơ chế tác dụng để có hiệu quả chéo với nhiều loại genotype, cải tiến đáp ứng, giảm thời gian điều trị, cải thiện tính dung nạp, giảm sự đề kháng, có thể áp dụng được với những đối tượng khó điều trị.
Các thuốc mới sẽ được đưa vào sử dụng là thuốc ức chế men protease (telaprevir kết hợp với peg - interferon hoặc ribavirin), thuốc ức chế polymerase (valopicitabine), thuốc interferon mới (albinterferon α - 2b phối hợp với ribavirin), interferon tái tổ hợp omega, taribavirin.
Vì sao bệnh khó điều trị?
Có khoảng 60% nhiễm HCV không có triệu chứng, 39% cảm thấy mệt (giống như cảm cúm, chán ăn, buồn nôn, có thể đau khớp, đau bụng nhẹ), ít khi có biểu hiện vàng da, nước tiểu sậm màu, chỉ 1% có các biểu hiện nặng.
Trong tổng số nhiễm HCV có khoảng 15% tự hồi phục, 85% chuyển qua thể mạn. Thể mạn thường âm thầm kéo dài hàng chục năm và chỉ phát hiện được khi đã có diễn biến nghiêm trọng (xơ gan, cổ trướng, giãn mạch máu đường tiêu hóa, vỡ mạch gây chảy máu ồ ạt, tử vong). Trong số 85% chuyển qua mạn tính thì có 20% bị xơ gan và có khoảng 3% trong số xơ gan bị ung thư gan.
Do nhiễm HCV ở các týp gen khác nhau, khả năng đáp ứng thuốc của các quần thể dân cư khác nhau nên hiệu quả điều trị khá dao động. Một khó khăn trong điều trị bệnh là người bệnh khó nhận biết mình bị mắc bệnh, thường đến bệnh viện muộn có khi đã xơ gan; kết quả điều trị dao động, chi phí điều trị cao nên có người bỏ dở, thậm chí không muốn điều trị.
Tóm lại, sự phát tán của HCV ngày càng có khuynh hướng tăng lên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều quan trọng là phát động chiến dịch về tác hại của việc dùng ma túy, làm giảm tác hại bằng chương trình sử dụng bơm kim tiêm một lần, giáo dục cho những người làm nghề xăm và nghề y học cổ truyền cách lựa chọn phương pháp điều trị để giảm thiểu việc lây bệnh qua đường máu.
Theo ThS. Nguyễn Thu Hiền - Sức khỏe và Đời sống

Khi người viêm gan dùng thuốc

Thuốc có tính độc với gan và không có tính độc với gan
Về tổng thể, có thể chia (một cách tương đối) toàn bộ thuốc ra làm 2 nhóm:
Những thuốc mà người bình thường khỏe mạnh vốn không bị bệnh gan nhưng khi dùng chúng đúng chỉ định, đúng liều lại bị tổn thương gan, được xếp vào nhóm thuốc có tính độc với gan hay còn gọi thuốc gây viêm gan. Những thuốc mà người bình thường khỏe mạnh, trước đó không bị bệnh gan, dùng đúng chỉ định, đúng liều, sẽ không gây tổn thương gan được xếp vào nhóm thuốc không có tính độc với gan hay còn gọi là thuốc không gây viêm gan.
Trong hai định nghĩa này không bao gồm trường hợp người dùng trước đó đã bị bệnh gan hoặc dùng không đúng chỉ định, không đúng liều. Nếu không tuân theo điều kiện giới hạn này, có khi xếp nhóm này vào nhóm khác. Có thể nêu một số thí dụ:
Paracetamol khi uống sẽ chuyển thành chất trung gian có độc cho gan.Nếu dùng đúng chỉ định là để làm giảm đau và đúng liều (mỗi ngày 2 - 4 viên tương đương 1 - 2g) thì chất trung gian ấy sinh ra ít, gan sản xuất đủ glutathion để hóa giải nên không bị hại. Tuy nhiên, khi dùng liều quá cao (mỗi ngày 16 - 24 viên tương đương 8 - 12g) thì chất trung gian gây độc cho gan sinh ra quá nhiều, gan không thể sản xuất đủ glutathion để hóa giải nên bị viêm gan cấp (hoại tử gan, tử vong).
Đây không phải lỗi do bản chất thuốc mà là lỗi do người dùng (dùng liều quá cao) Vì thế, paracetamol vẫn được coi là thuốc hiền lành (tuổi nào cũng dùng được, kể cả trẻ sơ sinh), bán không cần đơn (thuốc OTC) mà không xếp vào nhóm thuốc có tính độc với gan.
Corticoid vốn không có tính độc với gan. Tuy nhiên, khi dùng cho người viêm gan bị phù, cổ trướng thì do corticoid giữ nước nên làm nặng thêm bệnh này. Các thuốc an thần lợi tiểu táo bón… cũng không có tính độc với gan nhưng khi dùng cho người bệnh não do gan thì làm cho bệnh này nặng thêm. Cần tuân theo các "điều kiện giới hạn" đã nêu trong định nghĩa để khỏi xếp nhầm nhóm.
Người viêm gan dùng thuốc chữa bệnh khác thế nào?
Với nhóm không có tính độc với gan:
Người viêm gan dùng nhóm thuốc này cũng có thể bị tác hại:
Người bị viêm gan, chức năng gan suy giảm, sẽ ảnh hưởng đến dược động học của thuốc, làm thay đổi hoạt tính, tác dụng phụ nên có thể gây ra các tại biến khác nhau, kể cả tai biến về gan. Một số thí dụ:
Thông thường, thuốc vào máu sẽ gắn kết với protein của huyết tương thành dạng phức hợp, sau đó dưới tác động của gan mới giải phóng trở lại thành dạng tự do, rồi chuyển hóa thành các chất trung gian có hoạt tính, hoặc các chất trung gian không độc thải ra khỏi cơ thể qua đường phân hay nước tiểu. 
Người bị viêm gan nặng, chức năng sản xuất albumin của gan suy giảm, sự gắn kết giữa thuốc với protein với huyết tương bị giảm, do đó thuốc tồn tại dưới dạng tự do trong máu với tỉ lệ cao, làm tăng độ độc như các thuốc phenytoin, prednisolon.
Khi người viêm gan dùng thuốc
Gan có chức năng sản xuất các yếu tố đông máu. Khi viêm gan, chức năng gan suy giảm, các yếu tố đông máu bị thiếu. Do đó, thời gian đông máu kéo dài ra, thậm chí không đông. Lúc này, nếu bị chấn thương chảy máu, dùng thuốc cầm máu (gây đông máu) thì hiệu lực thuốc cầm máu bị gảm, sự cầm máu sẽ bị chậm trễ hay không cầm máu được. 
Ngược lại khi bị bệnh làm đông máu (tạo ra cục máu đông làm nghẽn mạch), cần dùng một thuốc chống đông (để làm tan cục máu đông ra, trả lại sự thống thoáng mạch) thì hiệu lực thuốc chống đông tăng quá mức, có thể gây ra tác dụng phụ chảy máu.
Người bị viêm gan ứ mật, chức năng sản xuất lẫn tiết mật bị đình trệ. Do thế, sự chuyển hóa thuốc lần đầu bị giảm, thuốc không bị mất đi nhiều, từ đó sinh khả dụng của thuốc tăng; ngược lại cũng do thiếu mật, các chất mỡ không được nhũ hóa để hấp thu, các thuốc tan trong mỡ sẽ hấp thu ít, từ đó sinh khả dụng của thuốc bị giảm.
Người viêm gan dùng nhóm thuốc này thế nào?
Trước hết vì các thuốc này không có tính độc với gan nên người viêm gan vẫn có thể dùng; tuy nhiên cần thận trọng chủ yếu là phải điều chỉnh liều lượng cho phù hợp. Có thể trở lại ví dụ đã nếu ở trên: người bị viêm gan, gan không sản xuất đủ các yếu tố đông máu nên thời gian đông máu kéo dài ra làm cho hoạt tính của thuốc chống đông máu bị tăng lên; nếu cần dùng thuốc chống đông máu thì cần giảm liều dùng để tránh tác dụng phụ gây chảy máu.
Với nhóm có tính độc với gan:
Có rất nhiều nhóm thuốc có tính độc với gan, trong đó có các nhóm chính sau:
Nhóm kháng sinh: gây độc cho gan bằng nhiều cách, với các mức khác nhau. Một số thí dụ: ngay trong nhóm kháng sinh macrolid thì clarithromycin, azithromycin chủ yếu chỉ làm tăng enzyme AST (aminostranferase), bilirubin trong máu kèm theo vàng da tăng bạch cầu ưa eosin; trong khi đó, tellimycin không chỉ gây độc cho gan theo cơ chế này mà còn làm tổn thương tế bào gan với tần suất vượt hẳn hai thuốc trên, còn treoandomycin lại gây độc cho gan theo cách hỗn hợp rất nguy hiểm. 
Tettracyclin dạng uống có thể gây thâm nhiễm mỡ gan bọng nhỏ, song không gây hậu quả về lâm sàng; tuy nhiên khi dùng dạng tiêm tĩnh mạch cho nữ mang thai lại có nguy cơ cao gây suy gan. Kháng nấm griseopulvin gây ứ mật.
Nhóm thuốc chống lao: tạo ra các chất độc, tác động lên protein của tế bào, làm hoại tử tế bào gan, hoặc tạo ra các phức hợp kháng nguyên kích thích tế bào lympho T đưa đến phản ứng miễn dịch gây nhiễm độc gan. Tỉ lệ mắc khoảng 0,6 - 3% trên số người dùng. Trong số đó, đa số do pyrazinamid (82%) thứ đến do isoniazid chiếm (9%), ít nhất do rifampicin (1%). 
Trong điều trị lao, thường dùng nhiều thuốc. Phải dò tìm "thủ phạm" bằng cách: cho ngừng dùng thuốc; điều trị cho enzyme gan trở lại bình thường; sau đó, cho dùng thử từng loại, đủ liều trong khoảng một tuần, thuốc nào làm tăng enzyme gan sẽ được xem là "thủ phạm". Thầy thuốc sẽ loại bỏ thuốc "thủ phạm" này, thay bằng một thuốc khác, rối tiếp tục điều trị lao theo nguyên tắc "đa hóa trị liệu" .
Nhóm diệt ký sinh trùng: thuốc sốt rét (amiodiaquin, mepraquin) gây rối loạn chức năng gan; thuốc giun (thiabenzol) vừa gây rối loạn chức năng gan, vừa gây ứ mật
Nhóm thuốc tim mạch: đa số chỉ gây ứ mật như: thuốc loạn nhịp (quinidin, ajmalin), thuốc mạch vành (verapamil, diltiazem), thuốc huyết áp (catopril, nifedipin). Chỉ một ít thuốc gây hoại tử gan hay hỗn hợp (vừa ứ mật, vừa thoái hóa mỡ, vừa hoại tử) rất nguy hiểm như: thuốc huyết áp (hydralazin, enalapril), thuốc mạch vành (herhexilin). Theo yêu cầu điều trị, nhóm thuốc này thường dùng dài ngày. Khi dùng nhóm thuốc này, phải khám định kỳ, nếu phát hiện thuốc gây độc cho gan, phải đổi thuốc.
Nhóm hoóc-môn: có thuốc gây ứ mật song tự hồi phục như testosteron, thuốc tránh thai nữ (với tỉ lệ thấp). Có thuốc gây ra hoại tử gan như kháng giáp tổng hợp (thiouracin). Theo yêu cầu điều trị thường dùng lâu dài song có thể nghỉ từng đợt khi bệnh ổn định (ví dụ: khi tình trạng cường giáp đã cải thiên, ngừng dùng kháng giáp tổng hợp) hay thay bằng phương pháp khác (ví dụ: thay thuốc tránh thai bằng các cách khác).
Nhóm thuốc trị ung thư: methotrexat gây nhiễm mỡ gan có thể xơ gan. 5- fluorouraci gây viêm gan.
Nhóm thuốc điều trị tâm - thần kinh: thuốc chống động kinh valproic có thể gây bất thường gan sau 2 - 4 tháng dùng; phenytoin có thể gây viêm gan cấp.
Nhóm kháng viêm không steroid: tỉ lệ người dùng các thuốc này bị viêm gan thấp (1 - 10 người trong 100.000 người dùng). Tuy nhiên, do nhóm thuốc này được dùng quá rộng rãi nên chúng vẫn được xếp vào nhóm thuốc chính gây viêm gan.
Người viêm gan có dùng nhóm thuốc này không?
Người viêm gan, chức năng gan bị suy giảm, khả năng hóa giải chất độc bị giảm sút, hoặc không thể hóa giải được chất độc, do thế, không được dùng loại thuốc có tính độc với gan. Một bệnh thường có nhiều thuốc điều trị. Khi điều trị cho người viêm gan thì chỉ chọn loại thuốc không có tính độc với gan. Có thể nêu ra hai ví dụ sau:
Bị viêm phổi, không nhất thiết phải dùng các kháng sinh thuộc nhóm macrolic: clarithromycin, azithromycin, telimycin (những thuốc gây độc cho gan) mà có thể dùng nhóm kháng sinh betalactam: penicillin, khi nặng penicillin không đáp ứng có thể dùng thế hệ mới như: cefuroxim (những thuốc không độc với gan).
Người viêm gan do rượu có thể bị cả viêm gan do virút, nhất thiết phải bỏ rượu. Thuốc cai rượu disulfiram làm gián đoạn quá trình chuyển hóa rượu thành nước và carbonic thải ra ngoài, chỉ cho quá trình này ngừng lại ở giai đoạn tạo thành acetaldehyt, làm cho người nghiện rượu bị khó chịu khi uống mà phải bỏ rượu. 
Người bị viêm gan, chức năng chuyển hóa của gan suy giảm, nếu dùng thuốc này thì quá trình chuyển hóa rượu bị ngừng trệ mạnh hơn, sinh ra quá nhiều acetaldehyt gây độc cho gan, nên không thể dùng được. Trong lúc đó thuốc acamprosat (biệt dược: campral) cai rượu bằng cơ chế lập lại hệ cân bằng GABA- glutamic, không bị chuyển hóa ở gan, không gây hại gan. Thầy thuốc có thể chọn thuốc này cố nhiên acamprosat có một số tác dụng phụ khác cần thận trọng.
Lời kết
Người viêm gan rất khó dùng thuốc chữa bệnh khác. Việc chọn thuốc, điều chỉnh liều (bao gồm kể cả thuốc thuộc nhóm không yêu cầu kê đơn - OTC). Với những thuốc dùng lâu dài, biểu hiên "viêm gan do thuốc" có thể không rõ, cần khám lâm sàng xét nghiệm gan định kỳ theo chỉ dẫn của thầy thuốc. 
Trong quá trình dùng, nếu thấy có một số bất thường (mệt, chán ăn, buồn nôn, nôn, vàng da, nước tiểu sậm, ngứa, phân nhạt màu, rối loạn dạ dày ruột, nổi ban da, sốt, tăng nhạy cảm hạ sườn phải, gan to, lách to, cổ trướng, lú lẫn, hôn mê), cần báo cáo với thầy thuốc (kể cả khi các hiện tượng này không đủ, chưa rõ). 
Nếu khám xác nhận có các triệu chứng trên, kết hợp xét nghiệm thấy enzyme gan tăng (thường tăng gấp 2,5 - 5 lần so với mức bình thường) thì xác định "bị viêm gan do thuốc", xử lý bằng cách ngừng hay đổi thuốc (tùy trường hợp). Người viêm gan khi cần chữa các bệnh khác thì không tự ý dùng hay kéo dài thời gian dùng thuốc.
Người viêm gan, chức năng gan bị suy giảm, khả năng hóa giải chất độc bị giảm sút, hoặc không thể hóa giải được chất độc, do thế, không được dùng loại thuốc có tính độc với gan.
Theo DS.CK2 Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống

9 dấu hiệu bạn đã bị ung thư gan giai đoạn đầu

Khoa học y tế hiện đại có rất nhiều phương pháp điều trị để giúp một bệnh nhân ung thư gan có thể sống sót. Nhưng điểm quan trọng cần làm là phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

Nếu nước tiểu có màu tối, thấy mỏi mệt kéo dài, chướng bụng, sút cân, vàng da..., rất có thể đó là dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan.
Gan là một trong những cơ quan sống còn của cơ thể người. Đây là tuyến lớn nhất và là cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể chúng ta. Chức năng của gan rất quan trọng cho một cuộc sống lành mạnh. Ung thư gan là một trong những vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến chức năng của bộ phận này, đe dọa đến tính mạng.
9 dấu hiệu bạn đã bị ung thư gan giai đoạn đầu
Khoa học y tế hiện đại có rất nhiều phương pháp điều trị để giúp một bệnh nhân ung thư gan có thể sống sót. Nhưng điểm quan trọng cần làm là phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Dưới đây là danh sách dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư gan.
Vàng da
Vàng da không phải là một căn bệnh, nó là một biểu hiện lâm sàng của suy giảm chức năng gan. Chức năng gan suy giảm gây ra tích tụ bilirubin trong cơ thể. Vàng da là một trong những dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư gan.
Gan nở rộng
Gan nằm ở vùng bên phải của bụng trên, kéo dài đến giữa. Gan nở to làm bạn có thể sờ thấy nó ở vị trí này. Bạn nên theo dõi để nhận được những lời khuyên từ bác sĩ vì đây là những dấu hiệu quan trọng của bệnh ung thư gan.
Nước tiểu có màu tối
Tăng bilirubin trong máu sẽ làm cho màu sắc của nước tiểu thay đổi từ màu vàng sẫm đến nâu. Nếu bạn nhận thấy có sự thay đổi màu sắc của nước tiểu, hãy đến gặp bác sĩ sớm nhất có thể.
Tụ dịch trong bụng
Tụ dịch trong bụng là một trong những triệu chứng ung thư gan giai đoạn đầu. Chướng bụng cùng với việc có thể sờ thấy được gan là một dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan.
Buồn nôn và nôn
Nếu bạn bị buồn nôn và nôn mửa không rõ nguyên nhân, kiểm tra xem bạn có bất kỳ triệu chứng suy giảm chức năng gan khác không. Nôn và buồn nôn thường được coi là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư gan.
Sút cân
Gan là cơ quan chính giúp cơ thể chúng ta trao đổi chất. Chức năng gan suy giảm sẽ khiến bạn bị sút cân. Sút cân được coi là một trong những triệu chứng quan trọng nhất của giai đoạn đầu tiên của ung thư gan.
Đau bụng
Gan nở rộng và suy giảm chức năng sẽ dẫn đến đau bụng. Nếu bạn bị đau bụng cùng với gan nở rộng, rất có thể bạn đã mắc bệnh về gan.
Ngứa
Ngứa có thể được coi như một triệu chứng chung. Nhưng đó cũng là một trong những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan. Điều này xảy ra chủ yếu là do ảnh hưởng của sự gia tăng bilirubin trong cơ thể. Chức nănggan suy giảm sẽ dẫn đến tăng bilirubin, gây ngứa trên da.
Mệt mỏi
Nếu cảm thấy mệt mỏi kéo dài đi kèm với bất kỳ triệu chứng suy giảm chức năng gan nào khác, bạn có thể đã mắc ung thư gan. Mặc dù mệt mỏi là một triệu chứng chung, nhưng rất thường gặp ở bệnh nhân ung thư gan.
Theo Đại lộ

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Nhìn da “bắt bệnh” gan

Khi da chuyển vàng, ngứa, sần, ban đỏ, nổi u cục… kèm theo cảm giác đau hạ sườn phải thì có thể gan bạn “đang bị ốm”.

Vàng da
Vàng da đơn độc hoặc đi kèm vàng mắt. Chẩn đoán gan: viêm gan virus hoặc nhiễm độc gan do rượu, thuốc, hóa chất, xơ gan, ung thư gan...
Hậu quả: Nguy cơ nhiễm bệnh gan.
Điều trị: Cần tập trung điều trị căn nguyên của nó (chính là các bệnh lý về gan); phối hợp điều trị ngứa, sẩn ngứa, ban đỏ, nút, cục trên da.
Bệnh nhân không nên gãi, xát chanh, muối hoặc tắm bằng xà phòng. Nên tắm bằng nước sạch hằng ngày, không kỳ cọ, chà mạnh, không tắm bằng nước nóng quá vì sẽ làm khô da và tăng ngứa sau tắm.
Có thể bôi một trong các chế phẩm có steroid như: flucinar, gentrisone, diprosone, fobancort... ngày/ lần từ 1-3 tuần, đồng thời uống các thuốc hỗ trợ gan như actiso. Nên uống một trong các thuốc kháng histamin như: phenergan uống tối hoặc loratadin 10mg/ngày trong 10-20 ngày. Nếu có nhiễm khuẩn thì cần uống kháng sinh (amoxicilin hoặc erythromycin). Một đợt dùng kháng sinh từ 5-7 ngày.
Ngứa
Triệu chứng trên da: Có thể ngứa ở một vùng nhất định hoặc lan tỏa toàn thân. Ngứa có thể thỉnh thoảng mới xuất hiện nhưng cũng có thể kéo dài liên tục nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.
Chẩn đoán gan: Có thể là dấu hiệu rối loạn bên trong cơ thể. Bệnh lý của gan cũng có thể gây ngứa ở nhiều trường hợp.
Hậu quả: Ngứa nhiều làm bệnh nhân mất ngủ, nếu kéo dài có thể gây trầm cảm.
Điều trị: Nếu gãi thì hay để lại các vết xước, thậm chí viêm da hoặc nhiễm khuẩn ở các vết xước này.
Sẩn ngứa
Triệu chứng trên da: Xuất hiện các sẩn nổi cao hơn mặt da, nền da phía dưới sẩn thường có màu đỏ, nếu bệnh nhân gãi nhiều thì các sẩn có thể hóa mủ.
Các sẩn này thường rải rác trên bề mặt da toàn thân. Bản chất là các sẩn huyết thanh, kích thước từ 0,3-1cm. Nếu sẩn ngứa xuất hiện ở bệnh nhân có cơ địa dễ dị ứng thì hay có phản ứng chàm hóa: bệnh nhân gãi nhiều sẽ tạo nên các đám mụn nước trên nền da đỏ, phù nề nhẹ.
Bệnh sarcoidosis
Trên da là các sẩn, các cục sâu dưới da, có thể rải rác hoặc tập trung thành mảng, sờ vào thấy chắc. Nền da màu đỏ, có thể có giãn mạch kèm theo. Có thể ngứa hoặc không ngứa. 20% bệnh nhân mắc sarcoidosis có biểu hiện lâm sàng của bệnh gan; và khi kiểm tra sinh thiết gan thì 60% trường hợp có dấu hiệu tổn thương gan.
Chẩn đoán gan: Gan có thể bị to, hoặc bị xơ, sinh thiết thấy các u hạt hoặc các u lao điển hình, có tăng alkaline phosphatase huyết thanh và tăng cholesterol máu. Các sẩn, các cục này tồn tại một thời gian rồi màu đỏ nhạt dần, có thể vỡ ra, loét, tiết dịch, đôi khi có mủ. Một số trường hợp lại bị đỏ da toàn thân trông giống như vảy cá hoặc vảy nến.
Mày đay kèm sốt
Xuất hiện các ban đỏ dạng sởi, hoặc nổi mày đay toàn thân, có thể ngứa hoặc không ngứa. Kèm theo bệnh nhân có thể sốt nhẹ, đau một hoặc nhiều khớp... Với các tổn thương trên, nên xét nghiệm máu vì có thể gan bị nhiễm virus viêm gan B.
Trong giai đoạn đầu, ở các bệnh nhân này có các phức hợp miễn dịch lưu hành trong máu lắng đọng tại da hoặc tại khớp, gây viêm da, viêm khớp.
Theo Sức khỏe Gia đình
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons