Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Giãn đường mật trong gan

Giãn nở đường mật trong gan còn gọi bệnh Calori là một bệnh di truyền. Có hai thể bệnh: phổ biến nhất là thể bệnh đơn giản chỉ giãn nở đường mật; ít gặp hơn là thể bệnh phức tạp có tăng huyết áp và xơ gan bẩm sinh, suy gan và bệnh thận đa nang, còn gọi là hội chứng Calori.
Bệnh dễ lẫn với các bệnh gan mật khác
Nguyên nhân gây bệnh Calori là do di truyền, các trường hợp đơn giản là do đột biến nhiễm sắc thể thường, còn các trường hợp phức tạp là do đột biến nhiễm sắc thể lặn. Phụ nữ dễ mắc bệnh hơn nam giới. Tiền sử gia đình có thể bao gồm bệnh thận và bệnh gan. Jacques Caroli, một chuyên gia về dạ dày - ruột mô tả bệnh này như là “sự giãn nở theo từng đoạn, nhiều chỗ có dạng hình thoi hoặc túi không tắc nghẽn của các ống dẫn mật trong gan”.
Bệnh Calori thường gặp ở châu Á và xảy ra ở độ tuổi dưới 22 là phổ biến. Tuy nhiên cũng có các trường hợp  bệnh xảy ra ở trẻ sơ sinh và người lớn. Bệnh thường gây ra biến chứng viêm đường mật, nhiễm khuẩn huyết, ung thư đường mật, sỏi ống mật chủ. Tình trạng tăng huyết áp thường là hậu quả của các tổn thương lách to, nôn ra máu và đi ngoài phân đen.
Phát hiện bằng cách nào?
Một bệnh nhân mắc bệnh này thường có các triệu chứng: đầu tiên là sốt, đau bụng và gan to. Nhiều trường hợp có vàng da. Bệnh Calori thường xảy ra đồng thời với các bệnh khác như: bệnh thận đa nang, viêm đường mật, áp-xe đường mật, sỏi mật, nhiễm khuẩn huyết, xơ gan, suy thận và ung thư đường mật. Những người mắc bệnh Calori có nguy cơ ung thư đường mật cao hơn 100 lần so với những người bình thường.
Với kỹ thuật hiện đại có thể chẩn đoán bệnh dễ dàng hơn mà không xâm lấn đến đường mật trong gan. Thông thường bệnh chỉ hạn chế ở thùy gan trái. Chụp cắt lớp CT, chụp cộng hưởng từ MRI hoặc chụp Xquang sẽ thấy sự giãn nở đường mật trong gan. Kỹ thuật siêu âm cũng có thể thấy hình ảnh giãn nở của ống mật. Trên phim chụp cắt lớp sẽ cho thấy sự khác biệt giữa sỏi mật và ống mật bị giãn. Bên cạnh đó, việc chụp Xquang đường mật vẫn là sự lựa chọn tối ưu cho việc chẩn đoán bệnh với hình ảnh các đường mật giãn rộng.

Các dạng giãn đường mật trong bệnh Calori.
Các dạng giãn đường mật trong bệnh Calori.
Phương pháp điều trị
Tùy thuộc vào triệu chứng lâm sàng và tổn thương bất thường đường mật mà chọn phương pháp điều trị thích hợp. Trường hợp bệnh được khu trú chỉ ở một  thùy gan, thì thường được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ thùy gan bệnh để loại bỏ các triệu chứng và giảm nguy cơ gây ung thư. Phẫu thuật cắt bỏ thành công cho các bệnh nhân chỉ bị bệnh ở một thùy gan thường mang lại đời sống cho họ trong nhiều năm. Ghép gan chỉ sử dụng khi kháng sinh không có hiệu lực, kết hợp với viêm đường mật định kỳ. Một vài nghiên cứu cho biết, có bằng chứng rằng bệnh Calori biến chứng ung thư chiếm 7% các trường hợp mắc bệnh.
Trong điều trị nội khoa, có thể dùng thuốc kháng sinh để điều trị viêm ống mật; dùng axit ursodeoxycholic điều trị sỏi ống mật chủ; dùng ursodiol để điều trị sỏi mật. Trong trường hợp bệnh Calori gây ung thư đã di căn, người ta thường phối hợp điều trị bảo tồn hoặc nội soi.
Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh Calori là một bệnh di truyền nên rất khó đặt ra biện pháp phòng tránh được bệnh. Do bệnh này lại có các triệu chứng: sốt, đau bụng, gan to, vàng da nên rất dễ nhầm với bệnh sỏi gan mật. Bên cạnh đó, bệnh Calori thường xảy ra đồng thời với các  bệnh: thận đa nang, viêm đường mật, áp-xe đường mật, sỏi mật, nhiễm khuẩn huyết, xơ gan, suy thận và ung thư đường mật nên việc chẩn đoán bệnh càng khó khăn hơn. Điểm cần chú ý là bệnh này rất dễ ung thư hóa nên nó càng trở nên nguy hiểm. Vì vậy, mọi người cần nắm vững các triệu chứng của bệnh nói trên để giúp bản thân và thầy thuốc sớm xác định được bệnh để điều trị sớm mới tránh được nguy cơ ung thư.
Đối với một bệnh nhân đã được chẩn đoán và điều trị bệnh này thì việc theo dõi tiền sử gia đình để xem Calori có phải bệnh di truyền không là việc làm cần thiết để bảo vệ những người trong gia đình chưa phát bệnh. Công việc theo dõi cần được tiến hành thường xuyên nhờ kỹ thuật siêu âm và sinh thiết.             
  ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Dinh dưỡng cho người viêm gan mạn tính

Khi viêm gan đã tiến triển thành mạn tính thì tế bào gan khó hồi phục. Việc điều trị nhằm ngăn ngừa sự phát triển của xơ gan và suy gan mất bù. Điều trị gan mạn tính quan trọng nhất là duy trì chế độ ăn uống hợp lý và lâu dài ứng với từng giai đoạn của bệnh. Thiếu dinh dưỡng thì gan không làm việc được nhưng dư thừa cũng không tốt vì gan yếu, khó loại thải chất dư thừa. Do vậy, tốt nhất cần biết những thứ gì nên ăn và thứ gì nên tránh.
Chế độ ăn cần chú ý
Ăn nhiều bữa để cơ thể hấp thu tốt. Cần chọn thực phẩm tươi, tránh thức ăn dễ gây dị ứng như hải sản, cua, tôm, ốc, tránh nấu nướng cầu kỳ.
Dinh dưỡng cho người viêm gan mạn tính
Acid béo và omega-3 từ cá tốt cho gan và làm chậm quá trình ung thư hóa gan.
Protein từ cá và sữa bò rất tốt cho người yếu gan vì dễ tiêu hóa. Trong sữa bò tươi hoặc sữa bột pha tương ứng có khoảng 3,7% chất đạm và 3,5% chất béo. Chất béo trong sữa bò thuộc loại khó tiêu hóa nên người ta thường khuyên người yếu gan không nên uống nhiều sữa chứ không phải là kiêng sữa (mỗi ngày nên uống 1 cốc).
Người bệnh gan cần giảm các chất béo, kiêng ăn các món rán chứ không phải kiêng hẳn chất béo. Một nghiên cứu cho thấy, ăn nhiều chất béo cùng với giảm protein và bột đường làm gia tăng quá trình xơ gan ở người viêm gan siêu vi C. Trong khi đó, một nghiên cứu khác chứng minh chất lecithin có nhiều trong lòng đỏ trứng gà và đậu mè, các loại chứa nhiều acid béo, omega-3 rất cần cho người bị bệnh viêm ganmạn tính kể cả viêm gan siêu vi A, B, C.
Dinh dưỡng cho người viêm gan mạn tính
Acid béo và omega-3 từ thực vật hay từ cá đều tốt cho gan và làm chậm quá trình ung thư hóa gan. Do đó, chất béo từ cá, trứng, đậu mè tốt cho gan. Điều cốt yếu là không dùng dư thừa.
Lưu ý: Không được uống rượu, bia. Nên chế biến thực phẩm theo lối kho, nấu, luộc, hấp chứ không nên rán.

PGS.TS. Trần Minh Đạo

Cách giải nhiệt bằng thảo dược cho gan

Nhiều người sau khi uống bia rượu hay cảm thấy người nóng bừng, cảm giác rất khó chịu. Đó là do gan không chuyển hóa được hết lượng cồn từ rượu, dân gian thường gọi hiện tượng này là nóng gan. Thực tế, hiện tượng này xảy ra khi chức năng giải độc của gan bị suy giảm, men gan tăng cao… Chúng ta có thể làm mát gan, tự giải độc cho gan ngay tại nhà với một số thảo dược, nhất là trong dịp cuối năm thường sử dụng nhiều bia rượu.
Chất cồn trong bia rượu sau khi hấp thu vào cơ thể sẽ được gan chuyển hóa thành acetaldehyd – một chất rất độc với gan. Sử dụng bia rượu thường xuyên, lượng acetaldehyd sản sinh quá nhiều, vượt quá khả năng chuyển hóa của gan, làm tăng men gan. Bởi vậy, nhiều nam giới sau khi uống bia rượu sẽ có cảm giác như có “hỏa” trong người.
HAMEGA – Bảo vệ và giải độc gan do bia rượu - Sản phẩm của Công ty TNHH Nam dược, có bán tại các hiệu thuốc trên toàn quốc. Sản phẩm an toàn, không gây tác dụng phụ, có thể sử dụng thường xuyên, lâu dài.
ĐT tư vấn: 04.22133856 /08.62785988
Website: hamengan.com.vn
Diệp hạ châu đắng (dân gian còn gọi là cây chó đẻ răng cưa) được cả Y học cổ truyền và hiện đại đánh giá cao nhất về tác dụng làm mát gan, mát máu, giúp hạ men gan và điều trị hiệu quả những tổn thương gan do bia rượu gây nên. Tác dụng đó là do chất đắng trong loại cây này có khả năng làm tăng glutathione – một chất bảo vệ gan thường bị thiếu trầm trọng ở những người thường xuyên sử dụng bia rượu. Chất glutathione được tăng cường sẽ giúp hạ men gan, tăng khả năng giải độc của gan, bảo vệ sức khỏe gan. Đồng thời, Diệp hạ châu đắng chứa một số hoạt chất đặc biệt có tác dụng sát trùng diệt khuẩn, chống viêm gan rất hiệu quả.
Cách giải nhiệt bằng thảo dược cho gan
Cây diệp hạ châu đắng(tên dân gian là cây chó đẻ răng cưa)
Vọng cách cũng là vị thuốc bảo vệ gan được sử dụng phổ biến trong dân gian.Dân gian thường dùng Vọng cách như vị thuốcchống rối loạn tiêu hóa và viêm đường tiêu hóa – những bệnh thường gặp ở người hay uống bia rượu. Ngoài ra, Vọng cách chứa nhiều hoạt chất làm tăng tiết nước bọt và tăng nhu động ruột giúp ăn ngon; làm nở khí quản giúp thở tốt nên thấy người khỏe mạnh hơn… Trong Vọng cách cũng có hàm lượng lớn kali, magie, mangan, sắt… - những khoáng chất giúp tăng cường sức khỏe, bổ sung nhiều dưỡng chất cho cơ thể.
Cách giải nhiệt bằng thảo dược cho gan
Cây Vọng Cách
Năm 2008-2010, Vọng cách cũng được các nhà khoa học ngành dược chứng minh về khả năng chữa tổn thương gan, nhất là những tổn thương do bia rượu.
Nhân trần được biết tới ở khả năng thanh nhiệt rất tốt, giúp lợi tiểu, hỗ trợ quá trình đào thải chất cồn ra khỏi cơ thể nhanh hơn, từ đó hạn chế những ảnh hưởng xấu của rượu bia vào gan. Dân gian vẫn thường dùng Nhân trần như thứ trà uống thay nước, làm mát gan, mát máu.
Cách giải nhiệt bằng thảo dược cho gan
Cây nhân trần
Dịp cuối năm, không chỉ đấng nam nhi, mà rất nhiều chị em cũng bắt buộc phải sử dụng ít nhiều bia rượu trong các bữa tiệc liên hoan. Bên cạnh tác dụng bảo vệ gan, những thảo mộc trên còn giúp chị em phòng tránh tình trạng nổi mụn, mẩn ngứa, vàng da… khá hiệu quả.
Ba vị thuốc thảo dược trên lần đầu tiên được kết hợp trong sản phẩm Hamega nhờ một công thức Đông dược độc đáo. Trước khi sử dụng bia rượu,bạn nên uống 4 viên Hamega để bảo vệ lá gan ngay từ đầu vàgiảm cảm giác say rượu. Sau đó tiếp tục uống 4 viên ngay khi kết thúc bữa tiệc để giải rượu, giảm triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hóa... Sử dụng Hamega hàng ngày sẽ là cách bảo vệ tốt nhất lá gan của mình!
Bảo Bình

TPCN Hamega với công thức lần đầu tiên kết hợp Diệp hạ châu đắng, Vọng cách và Nhân trần, được sản xuất theo tiêu chuẩn cao GMP của tổ chức Y tế thế giới và Quản lí chất lượng của Nhật Bản. Hamega an toàn dể sử dụng thường xuyên và lâu dài (thời gian sử dụng tối thiếu nên từ 6-8 tuần) giúp hạ men gan và bảo vệ gan hữu hiệu. Hamega cũng có tác dụng giảm mệt mỏi, nhức đầu khi uống bia rượu, ít say và tỉnh táo hơn.
* Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Phát hiện và chọn cách chữa ung thư gan nguyên phát

Nhờ sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, công nghệ sinh học... việc chẩn đoán bệnh ung thư gan nguyên phát sớm hơn, một số thuốc điều trị đích đã và đang được ứng dụng phần nào cải thiện thời gian sống cho người bệnh.
Ung thư gan nguyên phát hay còn gọi là ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nguyên nhân của bệnh có liên quan rõ rệt với viêm gan virut B, viêm gan C, sán lá gan, vai trò của aflatoxin B1, rượu. Phòng bệnh ung thư gan hoàn toàn có thể ngăn ngừa được bằng cách tiêm phòng viêm gan, đặc biệt phụ nữ mang thai, trẻ em và thay đổi lối sống.
Phát hiện và chọn cách chữa ung thư gan nguyên phát
Điều trị cho bệnh nhân ung thư gan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.            Ảnh: Q.N
Những biểu hiện thường gặp của ung thư gan
Ung thư (UT) gan sớm thường không có triệu chứng. Khi UT phát triển lớn hơn ta có thể nhận thấy một hoặc nhiều các triệu chứng như: cảm giác nặng, đau hoặc tự sờ thấy khối vùng hạ sườn phải. Mệt mỏi, mất cảm giác ngon miệng, gầy sút cân, buồn nôn và nôn. Vàng da, vàng mắt, phân nhạt màu, nước tiểu đậm màu. Khi có di căn xa có thể thấy kèm theo các triệu chứng của các cơ quan mà ung thư lan tới. UT gan thường lan đến phổi, có lẽ bằng đường máu. Một số ít trường hợp UT lan đến xương hoặc não.
Làm thế nào để biết bệnh ung thư gan?
Xét nghiệm máu
Không có xét nghiệm tầm soát đáng tin cậy và chính xác cho bệnh UT gan. Xét nghiệm sinh hóa sử dụng rộng rãi nhất là αFP (alpha-fetoprotein), αFP tăng gặp ở cả bệnh nhân viêm gan cấp và mạn tính (tăng mức độ nhẹ hoặc vừa). αFP tăng cao (trên 500ng/ml) rất gợi ý cho một UT gan, độ nhạy của αFP cho UT gan là khoảng 60%, do đó một αFP bình thường không loại trừ UT gan.
Chẩn đoán hình ảnh
Nghiên cứu hình ảnh siêu âm, CT scan, MRI đóng vai trò rất quan trọng trong việc chẩn đoán UT gan, giúp cung cấp thông tin về kích thước khối u, số lượng các khối u, sự xâm lấn và lan rộng của UT.
Sinh thiết gan hoặc hút tế bào
Thực hiện sinh thiết kim dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT scan, nguy cơ hay gặp nhất của phương pháp này là chảy máu do UT gan là khối u rất giàu mạch máu. Trong một số trường hợp UT gan, mô UT rất giống mô gan lành dưới kính hiển vi. Đôi khi có thể nhầm lẫn UT gan và ung thư tuyến trong gan. Các tiến bộ trong hóa mô miễn dịch có thể giúp phân biệt các trường hợp này.
Hút tế bào an toàn hơn sinh thiết do ít nguy cơ chảy máu, tuy nhiên, mẫu bệnh phẩm thu được bằng hút là khó khăn hơn.
Nên chọn phương pháp nào để chữa trị?
Lựa chọn phương pháp điều trị được quyết định bởi các giai đoạn của UT gan và tình trạng chung của bệnh nhân.
Phẫu thuật cắt bỏ gan
Mục đích của phẫu thuật cắt gan là để loại bỏ hoàn toàn khối u và các mô xung quanh. Lựa chọn này được giới hạn ở những bệnh nhân có một hoặc hai u nhỏ (kích thước dưới 3cm) và chức năng gan còn tốt, không có xơ gan liên quan. Những bệnh nhân có khối u được phẫu thuật thành công, tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên đến 60%.
Ghép gan
Ghép gan là lựa chọn tốt nhất cho những bệnh nhân có khối u nhỏ hơn 5cm và có dấu hiệu của suy gan. Để phòng ngừa, làm sinh thiết hoặc hút tế bào nên tránh ở những bệnh nhân cân nhắc ghép gan.
Hóa tắc động mạch gan (trans-arterial chemoembolization or TACE)
Thủ thuật này cũng tương tự như bơm hóa chất động mạch gan, nhưng trong TACE có bổ sung những hạt gel nhỏ làm tắc mạch sau khi bơm hóa chất. Ưu điểm của phương pháp này là tập hóa chất nồng độ cao và không bị mang đi bởi máu. Bằng cách dựa trên chặn lưu lượng máu đến khối u, TACE cũng gây ra một số thiệt hại cho vùng gan xung quanh, bệnh nhân có thể có đau, sốt, nhiễm trùng, tích tụ chất lỏng.
TS. BS. Đỗ Anh Tú

(Trưởng khoa Nội 3, Bệnh viện K T.Ư)

Viêm gan siêu vi C và việc dùng thuốc

Do chưa được cảnh báo đầy đủ nên người dân chưa hiểu rõ, ít chú ý đến viêm gan do siêu vi C (HCV) bằng viêm gan do siêu vi B (HBV). Nhưng thật ra, HCV nguy hiểm không kém gì HBV và cần dùng thuốc điều trị đúng, sớm và kiên trì.
Có khoảng 60% nhiễm HCV không có triệu chứng, 39% cảm thấy mệt (giống như cảm cúm, chán ăn, buồn nôn, có thể đau khớp, đau bụng nhẹ), ít khi có biểu hiện vàng da, sậm màu nước tiểu, chỉ 1% có các biểu hiện nặng.
Xét nghiệm phát hiện virut viêm gan.
 
Trong tổng số nhiễm HCV có khoảng 15% tự hồi phục, 85% chuyển qua thể mạn. Thể mạn thường âm thầm kéo dài hàng chục năm và chỉ phát hiện được khi đã có diễn biến nghiêm trọng (xơ gan, báng bụng, giãn mạch máu đường tiêu hóa, vỡ mạch gây chảy máu ồ ạt, tử vong). Trong số 85% chuyển qua mạn thì có 20% bị xơ gan và có khoảng 3% trong số xơ gan bị ung thư gan.
HCV có thể thuộc typ gen-1 ít đáp ứng với thuốc, hiệu quả điều trị thấp (chỉ 20%) týp gen- 2-3 đáp ứng với thuốc tốt hơn, hiệu quả điều trị có khi tới 97%-100%. Do nhiễm HCV ở các typ gen khác nhau, khả năng đáp ứng thuốc của các quần thể dân cư khác nhau nên hiệu quả điều trị khá dao động. Ví dụ, nhiễm HCV typ gen-1 dùng công thức điều trị chuẩn interferon pegylat + ribavirin ở người Mỹ gốc Phi hiệu quả điều trị đạt 26%, trong khi người Mỹ gốc châu Âu là 39%.
Một khó khăn trong điều trị bệnh là người bệnh khó nhận biết mình bị mắc bệnh, thường đến bệnh viện muộn có khi đã xơ gan (khó điều trị); khi điều trị thì có thể đáp ứng sớm, muộn hay không đáp ứng, thời gian điều trị kéo dài (thường là 12 tháng), kết quả dao động, chi phí điều trị cao nên có người bỏ dở, thậm chí không muốn điều trị.
Thuốc cơ bản điều trị HCV
Công thức chuẩn (hiện thường dùng) gồm interferon pegylat + ribaririn
Interferon: tác động vào hệ miễn dịch (làm tăng kích thước tế bào miễn dịch và đại thực bào), kháng lại sự nhân đôi (sinh sản) của virut. Chỉ dùng đường tiêm (vì bị thủy phân khi uống), có loại chỉ tiêm tĩnh mạch mà không tiêm bắp (vì bị hủy trong bắp thịt). Phải tiêm 3 lần trong mỗi tuần, kéo dài 12 tháng. Lúc mới dùng thuốc người bệnh có thể bị sốt sau khi tiêm (do khởi động miễn dịch của cơ thể, nên uống paracetamol trước khi tiêm 1 giờ, tiêm vào buổi tối). Interferon pegylat cho hiệu quả cao hơn interferon.
Ribavirin là kháng sinh dạng uống ức chế tổng hợp acid nucleic của virut nói chung nhưng với HCV tỏ ra nhạy cảm hơn các kháng sinh khác thuộc dòng này. Trong công thức chuẩn, vai trò ribavirin là kháng trực tiếp HCVvà chống lại sự kháng thuốc.
Nhiều nghiên cứu cho biết dùng interferon pegylat+ ribavirin cho kết quả cao (sạch virut) ngay cả với những người trước đây đã thất bại với đơn trị liệu inteferon hay ribavirin hoặc đã thất bại với trị liệu interferon+ ribavirin.
Các nghiên cứu cho biết dùng liều interferon 1,5mcg/kg/tuần và ribavirin 10,6mg/kg/ngày (và có điều chỉnh theo trạng thái đáp ứng) cho hiệu quả tốt hơn dùng theo liều cố định.
Tuy nhiên khi dùng thuốc, có thể có tác dụng phụ về tâm thần thần kinh (nếu nặng phải ngừng thuốc), có thể giảm bạch cầu, gây tán huyết (tác dụng phụ này do interferon, hạn chế bằng cách giảm liều hoặc cho truyền chất kích thích tạo máu epoetin mà không cần giảm liều hoặc dùng tiền chất viramidin thì không bị tán huyết như ribavirin song đều chưa ứng dụng lâm sàng).
Hiệu quả điều trị lệ thuộc vào typ gen HCV và đáp ứng của người bệnh:
- Nếu sau 12 tuần, số lượng virut giảm 100 lần so với trước điều trị là “đáp ứng sớm”, và sau 12 hay 24 tuần HCVRNA âm tính thì tiếp tục điều trị cho đủ 12 tháng, kết quả đến 97%-100%. Người nhiễm HCV typ gen-2-3 thường đáp ứng sớm, typ gen -1 thường ít khi đáp ứng sớm. Người bệnh đáp ứng sớm thường và cho kết quả khả quan, virut bị loại, không tái phát (sau 5 năm theo dõi), thuật ngữ chuyên môn gọi là “chữa khỏi bệnh”.
- Nếu sau 12 tuần mà lượng virut chỉ giảm 10 lần so với trước điều trị thì gọi là “không đáp ứng sớm” và sau 24 tuần điều trị nếu lượng virut vẫn tiếp tục giảm, HCVRNA âm tính thì tiếp tục điều trị. Người bệnh nhiễm HCV typ gen-1 thường ít đáp ứng sớm và đa phần thuộc diện này. Tuy hiệu quả không khỏi như trường hợp trên, nhưng cần tiếp tục trị liệu vì sẽ làm chậm sự tiến triển, ngăn ngừa xơ gan và ung thư gan
- Nếu sau 12 tuần hay chắc chắn nhất là sau 24 tuần mà lượng virus không tiếp tục giảm so với trước và HCVRNA dương tính thì không tiếp tục điều trị theo công thức chuẩn này mà chuyển sang cách điều trị khác.
Như vậy, sau 12 tuần hoặc chắc chắn là sau 24 tuần thầy thuốc có thể cho biết triển vọng điều trị và điều cần tiếp tục. Người bệnh cần biết rõ, thực hiện đầy đủ liệu trình.
Các thuốc mới đưa vào điều trị
Telaprevid: Một nghiên cứu cho thấy dùng interferon pegylat+ ribavirin + telaprevid đạt hiệu quả cao so với nhóm chỉ dùng interferon pegylat+ ribavirin hoặc interferon pegylat + telaprevid (69-80% so với 13%). Một nghiên cứu khác cho thấy nếu sau 12 tuần dùng 3 thuốc (như trên) lại tiếp tục kéo dài thêm 12 tuần nữa (tổng cộng 24 tuần) thì kết quả cao hơn là không tiếp tục dùng thêm 2 thuốc interferon pegylat+ ribavirin. Như vậy, telaprevid tuy tốt, song phải kết hợp với interferon pegylat và ribavirin
Boceprevid: Một nghiên cứu cho biết dùng interferon pegylat + ribavirin +boceprevid cho hiệu quả cao hơn nhóm interferon pegylat + ribavirin +giả dược. Như vậy, tuy boceprevid tốt song phải kết hợp với interferon pegylat và ribavirin. Và hiện vẫn chưa có thuốc mới nào thay thế được hoàn toàn công thức chuẩn.
Các thuốc dạng nghiên cứu
Chất BILN-2061 ức chế enzym protease NS-3, sau khi dùng 48 giờ, làm giảm HCV từ 100-1000 lần bao gồm cả người nhiễm HCV typ gen-1, đã có tiến triển đến xơ gan, đã thất bại khi dùng với interferon. Chất NM-283 ức chế enzym polymease NS-5b sau khi dùng thuốc 2 tuần thì lượng HCV giảm 50-100 lần. Cả hai chất, khi ngừng dùng thì HCV tăng trở lại, dùng tiếp thì bị độc. Hiện chất này vẫn đang được nghiên cứu chưa đưa vào sử dụng.
Theo một số nghiên cứu ở nước ta có khoảng 2% dân số nhiễm HCV (năm 2000) nhưng ở một số bệnh viện nhiễm HCV chiếm tới 39% trong tổng số người bị viêm gan siêu vi, ước tới 9-14% dân số (2005). Có thể sau này người dân quan tâm đến sức khỏe, đến các bệnh viện để xét nghiệm nên con số phát hiện nhiễm HCV cao hơn. Dẫu chỉ tham khảo nhưng con số trên cho biết nhiễm HCV đang trở nên phổ biến cần phát hiện điều trị đúng, sớm và kiên trì.
DSCKII. Bùi Văn Uy

Gầy có bị gan nhiễm mỡ?

Cháu 22 tuổi nhưng gầy yếu và rất lười ăn. Vừa qua đi khám bệnh, bác sĩ nói theo dõi gan nhiễm mỡ. Xin hỏi vì sao cháu gầy mà lại bị gan nhiễm mỡ ?
Nguyễn Thị Tuyết (Thanh Hóa)
Người gầy do ăn uống kém làm cho cơ thể thiếu năng lượng để hoạt động. Khi đó cơ thể bù lại bằng cách tăng cường phân giải mỡ thành năng lượng. Quá trình này dẫn đến tình trạng lượng axit béo vào trong máu nhiều, làm axit béo tự do tăng, kết quả là có sự tích trữ mỡ trong gan. Mặt khác, khi ăn ít và nhất là lười ăn thịt, cá, trứng, sữa, cơ thể bị thiếu chất đạm kéo dài làm cho việc hình thành apoprotein giảm, nên mỡ trong máu không chuyển hóa kịp, do đó mỡ trong máu tăng cao dẫn đến gan bị nhiễm mỡ. Cơ thể bị thiếu dinh dưỡng còn thiếu các vitamin và khoáng chất dẫn đến quá trình chuyển hóa chất béo bị rối loạn cũng gây ra gan nhiễm mỡ. Để phòng và chữa bệnh, cháu nên thực hiện một số biện pháp sau đây: thời gian đầu có thể cần truyền tĩnh mạch chất đạm theo chỉ định của bác sĩ; sau đó đảm bảo ăn uống đủ chất bằng cách ăn nhiều bữa, có thể ăn 4-5 bữa một ngày. Thường xuyên thay đổi món ăn để kích thích khẩu vị ăn được ngon miệng hơn. Nên ăn đủ các chất đạm, đường, mỡ, rau xanh, trái cây tươi để cơ thể được bổ sung đầy đủ các dưỡng chất. Thường xuyên tập thể dục để nâng cao sức khỏe và ăn uống được tốt dần lên.
 
BS. Ninh Hồng

Viêm gan virut B có bị xơ gan?

Em vừa đi hiến máu, xét nghiệm mới biết em đã bị viêm gan virut B (HBsAg và HBeAg dương tính). Trường hợp của em có nguy hiểm không? Em nghe nói bệnh viêm gan B sẽ dẫn đến xơ gan có đúng không?
Cao Thị Thịnh (Hà Nam)
Khi bị nhiễm virut viêm gan B sẽ có 3 khả năng sau: 65% người nhiễm sẽ không có triệu chứng và 25% người nhiễm sẽ bị viêm gan cấp, 10% sẽ bị viêm gan mạn tính. Trong số người viêm gan mạn tính có 70 – 90% sẽ trở thành người lành mang virut (có thể lây truyền bệnh cho người khác nếu quan hệ tình dục, cho máu hoặc mang thai sẽ truyền từ mẹ sang con) và 10 – 30% về sau bị xơ gan và ung thư gan. Trường hợp của em xét nghiệm HBeAg dương tính tức trong máu có virut viêm gan B thể hoạt động hay nói cách khác em đang bị viêm gan. Đây là giai đoạn cần điều trị theo chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa nội tiêu hóa. Còn xơ gan là diễn tiến về sau của bệnh viêm gan virut B do sự hủy hoại tế bào gan và tăng sinh mô sợi. Đã biến chứng xơ gan là bệnh nặng, hết khả năng điều trị nội khoa. Lời khuyên là em nên đi khám, xét nghiệm chức năng gan và điều trị sớm, tránh uống rượu cũng như tiếp xúc với hóa chất độc hại.
 
BS. Lê Văn Sơn
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons