Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Thiếu vitamin D, viêm gan C diễn tiến nặng hơn

Đó là kết luận vừa được công bố của nhóm nghiên cứu hỗn hợp từ Viện Nghiên cứu sức khỏe Hà Lan và ĐH Chulalongkorn (Thái Lan) trên tạp chí chuyên ngành Journal of Gastroenterology and Hepatology.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu của 461 bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C mạn tính và chưa từng dùng thuốc điều trị. Kết quả cho thấy, ở những bệnh nhân bị thiếu vitamin D (lượng vitamin D trong máu thấp < 30ng/ml) sẽ có tỷ lệ bị xơ hóa gan cao hơn những bệnh nhân không bị thiếu vitamin D đến 2,48 lần.
Viêm gan C mạn tính là bệnh chưa có thuốc chủng ngừa. Bệnh có thể diễn tiến thành xơ gan và ung thư gan, nhưng ở giai đoạn đầu bệnh diễn tiến âm thầm, không triệu chứng, chỉ phát hiện khi xét nghiệm máu. 
Vitamin D là một vitamin tan trong dầu, có nhiều trong sữa, dầu cá, gan động vật, lòng đỏ trứng; đặc biệt vitamin D còn được cơ thể tự tổng hợp từ một tiền chất có sẵn ở da dưới tác động của ánh sáng mặt trời.

BS.CKII Trần Ngọc Lưu Phương - BV Nguyễn Tri Phương
Phụ nữ thành phố

Mối nguy khi không điều trị viêm gan C

Tại sao người ta chủ quan với viêm gan C?
Bởi vì những người mắc bệnh viêm gan C không có triệu chứng gì và vẫn thấy khỏe mạnh trong thời gian dài, ông Hardeep Singh, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và ung thư gan ở BV St. Josept, quận Cam, California, Mỹ cho biết.
Vấn đề lan rộng đến nỗi vào năm 2013, Trung tâm Chẩn đoán và phòng ngừa bệnh khuyến cáo tất cả những người Mỹ sinh từ năm 1945 -1965 nên xét nghiệm viêm gan C. Người ta thực hiện một xét nghiệm máu đơn giản để phát hiện kháng thể viêm gan C. 
Nếu xét nghiệm có kết quả dương tính, tiếp theo sẽ là một xét nghiệm khác, gọi là PCR (Polemerase Chain Reaction) nhằm xác định số vi-rút có trong máu.
Những nguy cơ khi không điều trị
Nếu không chữa trị viêm gan C, nhiều bộ phận trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng, bao gồm:
Gan. Đây là bộ phận cơ thể trực tiếp bị ảnh hưởng, gan sẽ bị xơ hóa hoặc tổn thương. Tổn thương này làm chậm dòng máu đi qua gan, làm hỏng chức năng tiêu hóa và giải độc của gan. Viêm gan C còn làm tăng nguy cơ bị ung thư gan.
Não. Đôi khi, gan bị hư hại do ung thư, làm chất độc tồn đọng trong não, gây tình trạng viêm não. Bệnh nhân viêm não có triệu chứng nhầm lẫn, mất ngủ và rối loạn phương hướng.
Khớp. Bệnh nhân viêm gan C hầu như sẽ mắc bệnh thấp khớp, một bệnh viêm nhiễm làm các khớp bị đau, sưng và cứng.
Mạch máu. Bệnh nhân cũng thường mắc bệnh viêm mạch, do những protein bất thường trong máu bị đông cứng khi gặp lạnh. Kết quả mạch máu và dây thần kinh bị tổn thương, viêm loét da, thậm chí bị đột quỵ.
Xương. Trong vài trường hợp hiếm, người bệnh bị mắc bệnh loạn sản sụn, gây đau ở chi dưới do các mô xươnggia tăng.
Thận. Viêm gan C còn dẫn đến bệnh viêm tiểu cầu thận, bộ phận lọc chất bã ra khỏi dòng máu. Nếu không điều trị, thận sẽ bị hỏng hoàn toàn.
Tuyến tụy. Viêm gan C có mối liên hệ với bệnh tiểu đường típ 2. Virus làm gia tăng chất kháng insulin trong cơ thể, gây ra tiểu đường. Chất kháng insulin này lại thúc đẩy viêm gan C tiến triển nhanh hơn.

Theo Văn Khánh - Phụ nữ

Viêm gan siêu vi C nguy hiểm hơn B nhưng dễ chữa hơn?

Viêm gan siêu vi C nguy hiểm hơn siêu vi B vì gây đột biến gen kinh khủng và có tính chất liên tục (kết hợp với việc không ngừng phá hủy tế bào gan).

Nguyên nhân
Viêm gan siêu vi C nguy hiểm hơn siêu vi B vì gây đột biến gen kinh khủng và có tính chất liên tục (kết hợp với việc không ngừng phá hủy tế bào gan). Nguyên nhân chính là siêu vi C không tồn tại ở dạng ngủ (không hoạt động), trong khi đó siêu vi B lại có dạng tồn tại ở dạng ngủ (không hoạt động) (HbeAg âm tính).
Khi siêu vi C ở dạng hoạt động liên tục thì sẽ rất nguy hiểm nếu người bệnh không sinh hoạt lành mạnh (uống rượu bia), hoặc không được điều trị sớm. Nguyên nhân gây đột biến mạnh hơn siêu vi B vì siêu vi C khu trú ở ARN (đây là tế bào đích của siêu vi C).
Như ta đã biết, ARN có chức năng vận chuyển vật liệu di truyền đi ghép (trong quá trình tế bào nhân đôi). Do siêu vi C hoạt động rất mạnh nên làm rối loạn chức năng vận chuyển của ARN dẫn đến vận chuyển sai. 
Ví dụ, như thay vi mang vật liệu di truyền A để ghép với A thì lại mang A ghép nhầm sang B và đây chính là đột biến gen, điều gây ra ung thư. Siêu vi B khu trú ở ADN cũng gây đột biến nhưng không mạnh bằng siêu vi C.
Siêu vi C nguy hiểm hơn vì hoạt động liên tục (gây tổn thương gan liên tục) và gây đột biến gen cao hơn siêu vi B. Siêu vi B đã có vắc-xin còn siêu vi C chưa có. Viêm gan siêu vi B có thuốc uống còn viêm gan siêu vi C chủ yếu là tiêm (interferon), gây mệt mỏi cơ thể và tốn kém trong chi phí.
Phương pháp điều trị viêm gan siêu bao gồm: Tiêu diệt siêu vi, ức chế sự phát triển của siêu vi và đào thải siêu vi. Nếu chúng ta muốn tác động đến siêu vi thì chỉ tác động được khi siêu vi ở dạng hoạt động. 
Khi siêu vi ở dạng ngủ thì không có thuốc nào tác động được vì khi siêu vi nằm trong gen thì nó trở thành một cấu trúc trong đó (trong ARN hoặc ADN). Vì siêu vi C ở dạng hoạt động nên thuốc dễ tác động hơn, do đó tiêu diệt siêu vi C sẽ dễ hơn siêu vi B.
Tại Việt Nam, viêm gan siêu vi C chỉ có biện pháp chữa hiệu quả nhất là tiêm. Người bị viêm gan siêu vi C khi tiêm một thời gian có thể đi kiểm tra thấy hết siêu vi C trong cơ thể, trong khi đó người bị viêm gan siêu vi B thì không thể diệt hết siêu vi B bằng cách tiêm. Đi theo phương pháp đào thải thì thấy khả năng đào thải được siêu vi C mạnh hơn rất nhiều so với đào thải siêu vi B.
Thời gian điều trị
Khi dùng thuốc tiêm thì người bị viêm gan siêu vi C thường sau 6 tháng đến 1 năm là hết siêu vi (khỏi bệnh), tuy nhiên với điều kiện là người bệnh có thể trạng tốt và không điều trị gián đoạn. Còn ở trường hợp viêm gan siêu vi B thì phải tiêm 1 năm trở lên nhưng không bao giờ hết sạch siêu vi B trong cơ thể.
Có một số thông tin trên mạng internet là điều trị khỏi viêm gan C sau một tuần là không có cơ sở vì về lý thuyết một vòng đời của siêu vi C từ trong gen đến phát ra ngoài là vòng đời của tế bào đích của siêu vi đó (chỉ khi phát ra ngoài mới tiêu diệt và đào thải được siêu vi).
Ví dụ: Thời gian để có thể tiêu diệt được hết siêu vi B là bằng vòng đời của ADN. Nếu ADN cứ tồn tại mãi thì không thể tiêu diệt được mà chỉ có thể dùng phương pháp tăng cường miễn dịch. Trong khi đó, siêu vi C nằm ở ARN nên về lý thuyết vòng đời của ARN là bao lâu thì đó là thời gian ngắn nhất có thể điều trị khỏi viêm gan siêu vi C.
Phương pháp điều trị
- Tiêu diệt: Chủ yếu là thuốc tây với chi phí cao và nhiều phản ứng phụ. Theo thông tin mới thì Mỹ đã tìm ra thuốc uống điều trị siêu vi C có hiệu quả 50 đến 70% nhưng chi phí rất đắt.
- Phương pháp ức chế: Chủ yếu dành cho bệnh nhân viêm gan siêu vi B.
- Phương pháp đào thải: Theo thông tin thì thế giới đã tìm ra cách đào thải siêu vi C nhưng còn dang thử nghiệm.
Tôi đã nghiên cứu phương pháp này gần 20 năm và đã có kết quả 10 năm nay. Ưu thế của phương pháp này là hiệu quả nhanh hơn so với thuốc tiêm. Hoàn toàn không có phản ứng phụ vì ai cũng có thể dùng được (trẻ con biếng ăn khi dùng vài ngày là phục hồi chức năng gan và thèm ăn ngay). Rất rẻ so với thuốc tây.

Theo Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung Thành - Nông nghiệp Việt Nam

Để phát hiện xơ gan sớm

Mơ hồ về triệu chứng
"Trước đến nay, sức khỏe của tôi hoàn toàn bình thường, ăn được, ngủ được, thi thoảng có đôi ba ngày chán ăn rồi lại thôi. Nhưng không ngờ sau lần khám sức khỏe định kỳ bác sỹ lại kết luận tôi bị viêm gan B giai đoạn sớm", bác Nguyễn Văn Nghiêm (55 tuổi,ở Q.Bình Thạnh, Tp.HCM) cho biết. Nhưng "cũng may là được phát hiện sớm, chứ nếu đểu lâu thì chữa trị càng khó hơn", bác Nghiêm chia sẻ.
Các bác sĩ cho biết, phát hiện sớm xơ gan sẽ giúp phát hiện sớm bệnh viêm gan các loại. Tuy nhiên, do đặc trưng của bệnh, trong thời kỳ đầu, triệu chứng mắcxơ gan rất "nghèo nàn" và khó phát hiện.
Có đến 50% người viêm gan trong khoảng từ 1-5 năm là không có triệu chứng gì hoặc chỉ có những biểu hiện rất thông thường như hơi mệt mỏi, hoặc kém ăn một chút, rối loạn tiêu hóa hay nước tiểu hơi vàng… Vì vậy, có không ít trường hợp được chẩn đoán bị viêm gan trong khi cơ thể không thấy có nhiều biến đổi.
50% là do rượu
Xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em. Tỷ lệ người mang virus viêm gan B ở nước ta từ 10-20% dân số, trong đó bệnh nhân viêm gan B chiếm 1-2%, xếp vào loại cao hàng đầu ở châu Á. 15 năm trước đây, 80% trường hợp xơ gan ở nước ta là do virus, 10% do rượu.
Nhưng hiện nay, tỷ lệ đã thay đổi nhiều, nguyên nhân do virus chỉ chiếm khoảng 40%, nguyên nhân do bia rượu chiếm tới 50%. Chất cồn và aldéhyt trong bia rượu đang trở thành mối nguy hiểm cho gan, ngay cả với các loại rượu thuốc (ngâm thảo mộc và động vật). Thực tế, các vị thuốc bổ trong rượu chỉ có thể hấp thu một phần cồn, nhưng với chất độc aldéhyt thì không thể hấp thu.
Không chỉ có rượu, lạm dụng thuốc, từ các loại thuốc thông dụng như paracetamol trị cảm cúm đến các loại thuốc kháng sinh điều có hại cho gan. Những ai có thói quen sử dụng thuốc Bắc, thuốc Nam điều trị cũng nên cẩn trọng với những vị thuốc chưa được kiểm tra độc tính đối với gan. 
Thực tế, đã có những trường hợp dùng tới 50-70 thang thuốc để chữa bệnh gan, bệnh không khỏi mà chỉ càng nặng thêm.
Khám định kỳ để phát hiện sớm
Xơ gan là bệnh tiến triển chậm, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, điều trị khó khăn. Chính vì vậy, cần phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Trước khi bị xơ gan, hầu hết bệnh nhân đều mắc các bệnh lý gan mật như viêm gan do virus, nghiện rượu. Các triệu chứng của xơ gan giai đoạn đầu thường là: hơi đau ở hạ sườn phải, bụng trướng nhẹ, giãn các vi mạch ở cổ, mặt…
Cách tốt nhất để phát hiện sớm viêm gan cách tốt nhất là khám bệnh định kỳ. Tuỳ theo hoàn cảnh từng người mà 1-5 năm đi khám một lần thử chức năng gan và phát hiện virú viêm gan B và C. 
Siêu âm gan cũng có thể giúp bạn phát hiện bệnh, tuy nhiên hình ảnh siêu âm gan trong viêm gan độ chính xác không cao. Khi đã mắc viêm gan, hàng năm hoặc 6 tháng/lần, bệnh nhân phải đi kiểm tra xét nghiệm chức năng gan định lượng virus viêm gan trong máu và siêu âm gan.

Theo Hoàng Lan - Sức khỏe gia đình

Làm gì khi bị gan nhiễm mỡ?

Gan nhiễm mỡ là khi tế bào gan tích tụ quá nhiều chất béo, to lên, trơn láng và có màu nhạt hơn bình thường.

Gan nhiễm mỡ hiện nay đang được rất nhiều người biết đến và cũng đang là mối lo ngại hàng đầu trong cộng đồng dân cư, nó được xem là “bệnh lý thời hiện đại”. Nếu không được điều trị, bệnh dẫn đến những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe.
Sau khi khám bệnh hay khám sức khỏe định kỳ, qua siêu âm bụng tổng quát, chúng ta hay thấy kết quả được bác sĩ ghi là gan nhiễm mỡ. Đây là điều làm cho nhiều người hết sức lo lắng. Đôi khi đi đến thái quá, điều trị lung tung. 
Do đó, khi có kết quả “gan nhiễm mỡ” cần hết sức bình tĩnh vì hiện nay đời sống người dân được nâng cao, vấn đề dinh dưỡng được cải thiện, từ đó kéo theo một hệ lụy là mắc phải bệnh béo phì, bên cạnh việc sử dụng quá nhiều bia rượu, cho nên tình trạng người bị gan nhiễm mỡ ngày càng nhiều.
Thế nào là gan nhiễm mỡ?
Gan nhiễm mỡ là khi tế bào gan tích tụ quá nhiều chất béo, to lên, trơn láng và có màu nhạt hơn bình thường. Nếu chất béo (phần lớn là triglyceride) tích tụ quá 5% trọng lượng gan được xem là gan nhiễm mỡ. Tỉ lệ dân số Việt Nam bị gan nhiễm mỡ hiện không ngừng gia tăng theo mức độ tiêu thụ rượu bia trong cộng đồng. Gan nhiễm mỡ được chia thành hai loại:
1. Loại bọc lớn (có tên khoa học là Macrovesicular), trong đó các giọt mỡ lớn làm phình tế bào gan lên và đẩy nhân tế bào sang một bên.
2. Loại bọc nhỏ (có tên khoa học là Microvesicular), trong đó các giọt mỡ nhỏ tích tụ nhưng không đẩy lệch nhân tế bào gan.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Làm sao để phát hiện sớm bệnh “gan nhiễm mỡ”? Chỉ có khám sức khoẻ định kỳ mới có thể phát hiện sớm bệnh gan nhiễm mỡ. Do vậy, ít nhất một năm phải thực hiện công tác kiểm tra sức khoẻ định kỳ 1 - 2 lần và thực hiện kiểm tra qua siêu âm bụng tổng quát, chỉ cần siêu âm bụng là cho kết quả chính xác.
Nguyên nhân nào?
Nguyên nhân thường gặp nhất của gan nhiễm mỡ dạng bọc lớn là do nghiện rượu, béo phì và đái tháo đường. Còn nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ dạng bọc nhỏ là rối loạn biến dưỡng bẩm sinh; do một số thuốc như: corticoide, aspirin, tetracyeline, valproic acid, tamoxifene (thuốc điều trị ung thư vú), amiodarome (thuốc điều trị loạn nhịp tim); có thai; hội chứng Reye; mổ nối ruột non...
Dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mỡ
Đối với “gan nhiễm mỡ” dạng bọc lớn thường được phát hiện qua khám định kỳ với dấu hiệu gan to đều không đau, trơn láng ở người nghiện rượu, béo phì hay đái tháo đường. Các xét nghiệm về gan cũng ít cho thấy gì bất thường ngoại trừ đôi khi có tăng nhẹ men gan SGOT, SGPT và Phosphatase alkaline. Siêu âm hiện được xem là phương tiện chẩn đoán đơn giản, tiện lợi, rẻ tiền nhưng hữu hiệu.
Bên cạnh đó xét nghiệm chính xác nhất để chẩn đoán là làm sinh thiết gan. Dù ít được dùng đến, nhưng đôi khi phương tiện chẩn đoán này cũng cần thiết trong những trường hợp ngộ độc bởi các độc tố cho gan (hepatotoxin) hay những bệnh lý về biến dưỡng chưa rõ.
Đối với bệnh gan nhiễm mỡ dạng bọc nhỏ hay có triệu chứng mệt mỏi, nôn ói sau đó vàng da, hạ đường huyết và rối loạn đông máu nội mạch lan tỏa.
Điều trị và dự hậu của gan nhiễm mỡ
Với bệnh gan nhiễm mỡ dạng bọc lớn có thể phục hồi bình thường ngay cả trong trường hợp nặng. Riêng trường hợp do nghiện rượu có thể đi kèm với viêm và hoại tử tế bào gan, dẫn đến xơ gan thì không có thuốc đặc trị ngoài cách loại trừ các nguyên nhân như: nghiện rượu và các rối loạn tiềm ẩn.
Với bệnh gan nhiễm mỡ dạng bọc nhỏ thường phục hồi và có dự hậu tốt, tuy một số chất độc cho gan như: carbon tetrachloride có thể gây ra xơ gan nhưng không phải ở tất cả các trường hợp.
Trong những năm gần đây do phong trào nuôi gấu lấy mật đã làm rộ lên những lời đồn đoán cho rằng mật gấu có thể chữa nhiều bệnh của gan, trong đó có gan nhiễm mỡ vì sự thật là trong mật gấu có chứa chất ursodeoxycholic acid, có tác dụng tốt cho gan nhưng chất này đã được tổng hợp và có bán ngoài thị trường nên không cần thiết phải giết hoặc chọc hút mật gấu sống để dùng điều trị bệnh gan.
Để phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ, chúng ta nên giảm uống bia rượu, năng tập thể dục, ăn uống điều độ tránh béo phì, tránh một số thuốc có tác dụng độc cho gan. Nếu buộc phải dùng thuốc, nên hỏi bác sĩ để cân nhắc giữa cái lợi và hại của thuốc.

Theo Sức khỏe và Đời sống

Sỏi mật nhỏ có cần chữa trị?


Tùy theo vị trí của sỏi mật mà có tên gọi sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ và sỏi đường mật trong gan. Về số lượng, có thể chỉ một hòn sỏi duy nhất, có thể là nhiều, có khi rất nhiều, lấp kín đường mật (hàng trăm hòn).
Về kích thước, sỏi có thể nhỏ li ti như hạt tấm, có thể to như hạt đậu, có thể to như đầu ngón tay, có khi to như quả trứng gà. Về cấu tạo, hòn sỏi được cấu tạo bởi nhiều chất. Nếu trong thành phần có nhiều cholesterol là sỏi cholesterol.
Nếu có nhiều muối mật và sắc tố mật gọi là sỏi sắc tố mật. Nếu 2 thành phần có số lượng tương đương là sỏi hỗn hợp. Nguyên nhân của bệnh sỏi mật có liên quan tới ăn uống, rối loạn sự chuyển hóa trong cơ thể, dịch mật ứ đọng, ký sinh trùng đường mật, nhiễm khuẩn. 
Để điều trị sỏi mật, cần kết hợp cả dinh dưỡng và thuốc kể cả can thiệp lấy sỏi. Nguyên tắc cơ bản của việc trị liệu bằng dinh dưỡng cho bệnh nhân sỏi mật là hạn chế lượng cholesterol, cung cấp lipid hợp lý, khống chế năng lượng, tăng cường chất xơ, uống nhiều nước để ngăn ngừa mật ứ đọng... 
Thuốc làm tan sỏi: đã có nhiều nghiên cứu về các thuốc làm tan sỏi mật, kể cả tân dược và y học cổ truyền nhưng cho tới nay chưa có loại thuốc nào tỏ ra có hiệu quả. Tuy nhiên, các thuốc này có tác dụng bổ gan lợi mật nên thường được dùng hỗ trợ trong điều trị sỏi mật, vì vậy người bệnh có thể dùng để lợi mật.

Biến chứng của sỏi túi mật


Sỏi túi mật là một bệnh lý phổ biến, là nguyên nhân chủ yếu gây viêm túi mật (chiếm 90%). Theo các chuyên gia y tế, sỏi mật được hình thành chủ yếu do tắc nghẽn ống mật. Phụ nữ thường có nguy cơ mắc sỏi mật nhiều hơn nam giới.
Thông thường, biến chứng thường gặp là viêm túi mật cấp, gây hoại tử và thủng túi mật, có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Các biến chứng khác gồm viêm túi mật mạn, sỏi rơi xuống ống mật chủ gây viêm đường mật, viêm tụy cấp, rò mật - ruột, tắc ruột do sỏi mật. Khả năng gây ung thư túi mật chỉ ở mức 1%.
Vì vậy, khi phát hiện có sỏi túi mật, các nhà chuyên môn thường chỉ định phẫu thuật khi bị viêm nhiễm cấp hoặc mạn tính, có sỏi quá to gây đau hoặc tắc đường mật, viêm teo túi mật, ung thư túi mật... nhưng chủ yếu nguyên nhân cắt là do sỏi túi mật.
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons