Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Bị áp-xe gan vì ăn rau bón phân bắc?

Rau củ quả trồng tưới bằng phân bắc ẩn núp ký sinh trùng độc hại tên amíp có thể gây bệnh áp-xe gan. Những đồn thổi này có căn cứ không?

Áp-xe gan do amíp (amibe) là căn bệnh khởi xuất từ biến chứng bệnh kiết lỵ mạn tính mà thủ phạm là amíp. Bệnh này thường gặp ở các xứ nhiệt đới như các nước Đông Nam Á và châu Phi nhưng ít gặp ở Việt Nam hiện nay.
Đường đi của thủ phạm amíp

Amíp, còn gọi “biến hình trùng”, là loại đơn bào không có hình dạng cố định, di chuyển nhờ vào các giả túc (Pseudopod, là phần nhô ra của tế bào chất theo hướng di chuyển).
Tên khoa học amíp là Entamoeba histolytica, là dạng gây bệnh; còn Entamoeba coli là dạng tiềm sinh không gây bệnh, người bệnh thường có thể mang mầm bệnh nhưng không phát bệnh, tuy nhiên đây là cơ nguyên gây lan truyền bệnh.
Có những nghiên cứu đã phát hiện các yếu tố có thể làm tăng hoạt lực của entamoeba từ dạng sống tiềm sinh thành dạng gây bệnh, như: tình trạng suy kiệt sau nguyên nhân (bệnh nặng; stress nặng như mất người thân, thất tình…), suy giảm miễn dịch…
Tuy nhiên yếu tố làm entamoeba từ dạng không gây bệnh sang gây bệnh rõ nhất là mất cân bằng dòng vi trùng trong đường ruột, thường xảy ra sau dùng kháng sinh liều cao qua đường uống, làm chết các dòng vi trùng sống cộng sinh trong đường ruột, gây mất cân bằng sinh thái vi trùng trong đường ruột.
Entamoeba histolytica sống trong đường ruột dưới hai thể dưỡng bào và bào nang. Thể bào nang hiện diện trong ruột người khoẻ mạnh và thải ra ngoài theo phân. Ở những nơi còn bón phân người trong nông nghiệp hay đi cầu trên sông rạch ao hồ sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh này.
Khi ăn những rau củ quả hoặc uống nước có bào nang đó vào ruột non, các trypsin của dịch tiêu hoá sẽ phá hủy các vỏ bọc và thải ra các thể dưỡng bào entamoeba. Các con entamoeba sẽ thường trú ở vùng manh tràng, khi có đủ các yếu tố thuận lợi chúng sẽ hoạt hóa thành dạng gây bệnh.
 
Để phát hiện sớm bệnh
80% áp-xe gan do amíp là ở gan phải. Ba triệu chứng chủ yếu là: đau vùng hạ sườn phải, sốt, gan to. Bệnh nhân có thể có tiền sử bị bệnh lỵ. Ngoài ra, khi có các triệu chứng nghi ngờ như đi cầu ra nhầy máu, mót cầu… cũng nên đi khám sớm để được chẩn đoán chính xác.
Xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán áp-xe gan do amíp là xét nghiệm huyết thanh tìm kháng thể của amíp bằng phương pháp miễn dịch enzyme EIA. Xét nghiệm này duy trì kết quả dương tính thời gian dài (6 - 12 tháng).
Sau khi đã trị khỏi và có thể dương tính ở những người không có triệu chứng đang sống ở vùng dịch tễ của amíp. Xét nghiệm huyết thanh thứ hai là tìm kháng nguyên của amíp bằng phương pháp ELISA. Xét nghiệm định lượng ELISA giúp chẩn đoán người bệnh bị lỵ amíp hay áp-xe do amíp, tuỳ nồng độ pha loãng huyết thanh với phản ứng dương tính và kháng nguyên.
Với phản ứng dương tính dưới 1/400, bệnh nhân có thể bị lỵ amíp; còn nếu phản ứng dương tính trên 1/800, bệnh nhân có thể bị áp-xe do amíp. Phản ứng ELISA còn giúp đánh giá kết quả điều trị áp-xe gan do amíp (nếu đáp ứng điều trị, sau một tháng phản ứng kháng nguyên sẽ giảm dưới 1/200).
Ngoài xét nghiệm huyết thanh thì với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm cũng giúp chẩn đoán chính xác tình trạng áp-xe, kích thước, vị trí… Siêu âm cũng giúp đánh giá kết quả điều trị, nếu sau điều trị có đáp ứng thì kích thước ổ áp-xe sẽ thu nhỏ lại.
Điều trị không nhất thiết phải phẫu thuật
Hiện nay với nhiều thuốc điều trị đặc hiệu như metronidazol, tinidazol… việc điều trị bệnh lỵ amíp đã trở nên hữu hiệu và làm giảm biến chứng áp-xe gan xuống đến mức thấp nhất. Từ đây, điều trị phẫu thuật cũng giảm hẳn, trừ trường hợp có biến chứng hay không đáp ứng với điều trị nội
Biến chứng của áp-xe gan do amíp nếu không điều trị sẽ rất nặng, do 80% vị trí áp-xe gan loại này nằm ở nửa trên của gan nên liên quan nhiều đến cơ hoành. Áp-xe ở gan phải có thể phá vỡ cơ hoành, gây tràn mủ màng phổi phải.
Áp-xe ở gan trái nguy hiểm hơn do tiếp xúc với màng tim, nếu vỡ sẽ gây tràn mủ màng tim, rất dễ tử vong. Do đó nếu ổ áp-xe to ở gan trái thì thường được khuyên phẫu thuật dẫn lưu mủ sớm để tránh biến chứng nguy hiểm.
Ngoài ra, áp-xe ở gan phải nếu to cũng được khuyên nên dẫn lưu sớm. 20% áp-xe gan còn lại nằm ở nửa dưới gan cũng có thể gây biến chứng viêm phúc mạc nếu ổ áp-xe vỡ vào khoang phúc mạc.
Với các phương tiện chẩn đoán hiện đại, vệ sinh môi trường được cải thiện, các thuốc điều trị hiệu quả… bệnh lỵ amíp cũng như áp-xe do amíp ngày càng giảm dần và các biến chứng của áp xe do amíp hiện đã hiếm hẳn so với thập niên 1970 - 1980 tại Việt Nam. 
 

Theo ThS.BS Dương Phước Hưng - Sài Gòn Tiếp Thị

Viêm gan B và những thói quen độc hại

Uống nhiều rượu, hút thuốc, thiếu ngủ, dùng thuốc tùy tiện, dễ nổi giận, ăn nhiều mỡ, hay ăn đêm là 7 thói quen độc hại với người mắc viêm gan B.

1. Uống quá nhiều rượu

Rượu sau khi vào cơ thể một lượng nhỏ thông qua quá trình trao đổi chất chủ yếu thực hiện ở gan. Nếu uống quá nhiều, rượu tích tụ trong gan đến một mức nhất định sẽ gây tổn thương gan.

Rượu rất có hại cho những bệnh nhân viêm gan B mãn tính. Virus viêm gan B và rượu khi cùng tồn tại sẽ gia tăng tổn hại cho gan, dẫn đến xơ gan, ung thư gan. Vì vậy, khuyến cáo người có viêm gan B không nên uống rượu và đồ uống có cồn.


2. Loạn dùng thuốc

Việc mua và sử dụng thuốc đúng liều, đúng lượng là khá khó khăn với người tiêu dùng. Việc sử dụng thuốc tràn lan sẽ chỉ khiến bệnh của bạn trở nên trầm trọng hơn!

Thuốc có ảnh hưởng nhất định đến các mô và các cơ quan của cơ thể. Thuốc sau khi vào cơ thể đa số được chuyển hóa qua gan. Khi sử dụng thuốc, gánh nặng của gan sẽ gia tăng, gây tổn hại cho gan. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi sử dụng.

Một số bệnh nhẹ như cảm lạnh không nên lạm dụng thuốc, hãy nghỉ ngơi và uống nhiều nước. Nếu cần, hãy sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ và lựa chọn các loại ít gây tổn thương cho gan.

Những người nhiễm viêm gan B nên chú ý điểm sau:

- Cố gắng tránh dùng thuốc.

- Kịp thời thông báo với bác sĩ tình hình bệnh.

- Tránh sử dụng các loại thuốc có hại cho gan.

- Lựa chọn các loại thuốc ít có tác động đến chức năng gan.

- Thường xuyên kiểm tra chức năng gan trong thời gian sử dụng thuốc.

3. Thiếu ngủ

Trung y cho rằng, gan là bộ phận lưu trữ điều chỉnh các chức năng của máu. Nếu cơ thể được nghỉ ngơi trong trạng thái yên tĩnh, khi nhu cầu máu của các bộ phận được giảm xuống thì lượng máu đó được trở lại gan.

Nếu thiếu ngủ, hoặc nghỉ ngơi không hợp lí dẫn đến sự thiếu hụt của máu ở gan ảnh hưởng đến sự nuôi dưỡng tế bào gan.

Nên nghỉ ngơi từ 23h để có được giấc ngủ sâu vào 1-3h sáng. Nên ngủ 8 tiếng mỗi ngày, người già là 7-9 tiếng.

4. Dễ nổi giận và bực tức

Nếu một người bị căng thẳng trong thời gian dài, tâm trạng không được giải tỏa, khiến khí không được lưu thông, gây tổn hại cho gan, có biểu hiện như tức ngực, đau xương sườn.

Hãy thường xuyên nói chuyện với người thân và bè bạn, đồng nghiệp để học cách điều hòa và khắc phục trấn áp trạng thái tâm lí. Học cách thích ứng với hoàn cảnh và các tình huống khó khăn.

5. Ăn nhiều dầu mỡ

Mỡ là thành phần dinh dưỡng quan trọng của cơ thể. Lượng mỡ thích hợp đưa vào cơ thể cung cấp năng lượng và duy trì chức năng sinh lý.

Tuy nhiên, dầu mỡ chính là kẻ thù số một của gan, người có gan không tốt nếu hấp thụ lượng chất béo cao sẽ tăng gánh nặng cho gan.

Bạn cần hết sức chú ý đến thói quen dinh dưỡng hàng ngày, đặc biệt là thành phần mỡ trong thức ăn, nên lựa chọn thức ăn thanh đạm, ít dầu mỡ, thay thế bổ sung các loại thực phẩm nhiều vitamin như hoa quả tươi.

6. Hay ăn đêm

Dinh dưỡng sau khi được hấp thụ vào cơ thể đều được chuyển hóa qua gan. Việc ăn đêm ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi của gan, tăng gánh nặng cho gan. Ngoài ra, ăn đêm còn không có lợi cho các chức năng khác như: dạ dày, tì vị, thận, mật…

Những người mắc viêm gan B mãn tính tốt nhất không nên ăn đêm hoặc cố gắng giảm thiểu ăn đêm.

7. Hút thuốc lá


Khói thuốc sau khi được hít vào đều gây tổn hại với các cơ quan trong cơ thể ở những mức độ khác nhau, là nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư và các bệnh khác.

Gan là cơ quan giải độc, sau khi bị nhiễm vi rút gan B, chức năng của gan giảm xuống, sự gia tăng nicotin trong cơ thể chất thêm gánh nặng cho gan và gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe.

Những bệnh nhân viêm gan B mãn tính tuyệt đối không nên hút thuốc.

Theo Dân trí

Gan nhiễm mỡ do đâu?

Gan nhiễm mỡ dễ phát hiện nhưng vấn đề là nhiễm đến mức nào và có phải cứ béo phì thì gan mới bị nhiễm mỡ?

Nhiều lá gan thậm chí nhiễm mỡ nặng nhưng người bệnh lại không hề dư cân. Thông thường, nhiều người khi bị gan nhiễm mỡ là kiêng ăn mỡ triệt để nhưng quên mất là cơ thể phải có thời gian điều chỉnh được rối loạn biến dưỡng trước đó. 

Hơn nữa, giảm cân quá nhanh cũng không có lợi vì cơ thể rơi vào 1 tiến trình rối loạn biến dưỡng mới, có thể tệ hơn trước đó.
 
GS Zeisel ở ĐH North Carolina (Hoa Kỳ) đã ghi nhận là nhiều người béo phì sau khi sụt cân quá nhanh lại vướng phải gan nhiễm mỡ. Vì với khẩu phần kiêng mỡ hoàn toàn, cơ thể sớm muộn sẽ thiếu hụt lecithin (chất đạm cần thiết cho chức năng giải độc của gan). 

Nhờ có đủ lecithin và cholin (một tác chất dẫn xuất từ lecithin) mà tế bào gan không bị sứt mẻ khi hằng ngày phải tiếp xúc với đủ loại độc chất. Ngược lại, gan sớm bị hủy hoại nếu thiếu lecithin và cholin. 

Khi đó, tế bào mỡ nhanh chân trám chỗ trống trong gan. Gan từ đó nhiễm mỡ, nhanh hay chậm tùy mức độ thiếu hụt lecithin.
 
Lá gan hồi phục rất nhanh khi được tiếp tế lecithin và cholin. Từ kết quả nghiên cứu, Zeisel đã khuyên người có lá gan nhiễm mỡ nên lưu ý những điều quan trọng sau đây:
 
- Kết hợp ăn hằng ngày các món có nhiều lecithin như giá sống, mè, đậu nành, đậu xanh, dầu hoa hướng dương …
 
- Đừng giảm cân cho bằng được nếu biết thương lá gan. Sức người hay sức gan đều có hạn. Tức nước làm chi để rồi khó tránh vỡ bờ?

Muốn gan làm tròn chức năng giải độc để tránh béo phì, phòng bệnh biến dưỡng, phải cho gan no bụng trước đã. Gan mà thiếu đạm, gan mà ít béo đâu còn là gan?


Theo BS Lương Lễ Hoàng - Người lao động

Khử độc cho gan

Khi gan bị tích tụ quá nhiều độc tố, bạn cần khử độc kịp thời bằng cách uống nhiều nước lọc, bổ sung vitamin và protein.

Gan rất quan trọng vì thực hiện gần 500 chức năng, nổi bật là tổng hợp protein, sinh ra các hoạt chất giúp tiêu hóa và khử độc cho cơ thể.

Tuy nhiên, đôi khi gan không hoàn thành nhiệm vụ do bị tích tụ quá nhiều độc tố. Nếu bạn thấy đau đầu liên tục, đau cơ, da khô rát hoặc bị táo bón thì đó chính là dấu hiệu cho thấy gan đang kêu cứu, cần khử độc kịp thời.

Khử độc cho gan không khó. Nước là 1 liều thuốc tự nhiên đầu tiên. Nước tinh khiết, nước chanh, nước trà là 3 loại tốt nhất để khử độc. Nên uống hơn 2 lít nước mỗi ngày.

Tiếp theo là tăng cường hấp thụ các loại vitamin và protein, vì chúng rất tốt cho gan. Rau quả và thịt trắng được coi là những dưỡng chất chính. Bên cạnh đó, bạn phải ăn uống đúng cách.


Theo Phụ nữ Online

Bị gan nhiễm mỡ, nguy cơ đột quỵ tăng 3 lần


Có sự liên quan giữa gan nhiễm mỡ và đột quỵ ở những người có men gan cao trong máu.

Đây là kết quả nghiên cứu của các bác sĩ tại Bệnh viện St Michael's và các trung tâm khoa học y tế ở London (Anh). Nghiên cứu này tìm thấy một liên kết giữa các bệnh do gan nhiễm mỡ và đột quỵ. Gan nhiễm mỡ là tình trạng phổ biến, thường không có triệu chứng hoặc biến chứng. Có nguy cơ gây béo phì, cholesterol cao, tiểu đường và đặc biệt là kháng insulin.

TS Joel Ray, Ivan Ying và cộng sự phát hiện rằng mức độ cao của các enzym là thủ phạm gây ra bệnh gan ở người trưởng thành đã từng đột quỵ cấp tính. Từ năm 2005 đến 2009, xem xét 103 người đã từng đột quỵ được xác nhận bằng chụp MRI và so sánh với 200 trường hợp đột quỵ được biết qua chẩn đoán bằng MRI (không phải đột quỵ cấp tính).

TS Ray cho rằng nguy cơ đột quỵ có liên quan đến bệnh gan nhiễm mỡ nhưng chưa bao giờ được thử nghiệm. "Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 1 sự liên quan giữa gan nhiễm mỡ và đột quỵ ở những người có men gan cao trong máu. Điều này có thể giúp dự đoán nguy cơ đột quỵ và giúp việc chăm sóc, điều trị tốt hơn" - TS Ray khẳng định.


AloBacsi.vn
Theo Người lao động

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Sự kỳ diệu của gan

Gan được gọi là một nhà máy kỳ diệu của con người. Bởi vì, gan tham gia hầu hết các quá trình tổng hợp, lọc và thải loại chất độc để cho cơ thể ngày một khỏe mạnh. Thế nhưng, chúng ta dễ lãng quên vai trò ích lợi của gan...
Trong cơ thể thì gan nằm bên phải, dưới lồng ngực phải, ngăn cách phổi bởi cơ hoành, còn gọi là hoàng cách mô (diaphragm). Mặc dù chức năng của gan vô cùng phức tạp và phong phú nhưng cấu trúc của gan lại rất đơn giản. Theo cổ điển thì gan được chia thành 2 thùy chính (lobe): thùy phải và thùy trái, dựa theo vị trí của dây chằng liềm. Dây chằng liềm nối liền gan với cơ hoành và thành bụng trước.
Sự kỳ diệu của gan
Lời khuyên của thầy thuốc
Biết về sự kỳ diệu và vai trò vô cùng quan trọng của gan, mỗi một chúng ta luôn luôn phải tự bảo vệ lá gan của mình không để cho nó mang bệnh làm đảo lộn cuộc sống của chúng ta. Vì vậy, nên tiêm vắc-xin phòng viêm gan (A, B), ăn uống hợp lý, hợp vệ sinh để tránh mắc bệnh viêm gan A, E, không nên lạm dụng rượu, bia. Khi đã bị viêm gan B, C mãn tính hoặc người lành mang virút viêm gan B cần kiêng rượu, bia tuyệt đối. Trong cuộc sống thường ngày, mọi người cần tránh các tác nhân va đập mạnh vào vùng gan.
Cấu tạo của lá gan
Sự phân chia theo cổ điển không tương ứng với cơ cấu của lá gan. Vì vậy, ngày nay, người ta chia lá gan thành 8 phân thùy nhỏ dựa vào những phân phối của mạch máu trong gan.Mỗi phân thùy của gan lại phân ra hàng ngàn đơn vị cấu trúc rất nhỏ. Cấu tạo của mỗi đơn vị là hình lục giác và có tĩnh mạch cực nhỏ chạy xuyên qua giữa tâm và cuối cùng tập trung về tĩnh mạch gan, đây là tĩnh mạch đưa máu ra khỏi gan để về tim. Vây quanh các tĩnh mạch cực nhỏ ở giữa mỗi đơn vị cấu trúc là hàng trăm tế bào khối (được gọi là hepatocyte). Ở bên ngoài mỗi đơn vị cấu trúc là những động, tĩnh mạch nhỏ và các ống dẫn đưa các chất lỏng đến và đi khỏi gan.
Khi gan hoạt động, các chất dinh dưỡng được hấp thu, các chất thừa, độc hại bị loại bỏ và các chế phẩm do gan tạo ra được đưa vào cơ thể qua các ống dẫn nhỏ này. Nghiên cứu cho thấy các mạng lưới ống dẫn chuyển tải qua gan mỗi phút khoảng 1,4 lít máu, như vậy trong 24 giờ liên tục gan có thể xử lý khoảng 2.000 lít máu. Lượng máu này, sau khi qua gan, chúng lại được trở về tim để từ đây chúng lại được phân bổ đi các cơ quan khác trong cơ thể.
Tùy theo kích thước và trọng lượng của mỗi cá thể, gan có trọng lượng từ 1.100 - 1.800g (ở nữ giới gan nhỏ hơn gan nam giới). Xung quanh gan được bao bọc bởi vỏ bên ngoài chứa đựng nhiều dây thần kinh. Tuy vậy, tế bào gan không có dây thần kinh cảm giác, cho nên khi bị tổn thương hoặc bị bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào cả. Trừ trường hợp khi gan bị “sưng to” (gan to), lúc này, màng bọc ngoài gan sẽ bị kéo căng ra, gây ra những cơn đau tức hoặc khó chịu ở vùng gan. Triệu chứng này gặp ở một số trường hợp của viêm gan cấp tính hoặc khi gan to ra vì bị suy tim bên phải (gây ứ máu ở gan), áp-xe gan (do amip hoặc do vi khuẩn làm viêm và tổn thương tổ chức gan), ung thư gan (hủy hoại tế bào gan). Gan được che chở và bảo vệ bởi lồng ngực cho nên được hạn chế phần nào khi có tác động từ bên ngoài vào gan.
“Nhà máy” kỳ diệu
Với một cấu trúc, hệ mạch phức tạp và trên 500 chức năng khác nhau nên gan được xem là một trong các cơ quan kỳ diệu nhất của loài động vật có vú, trong đó có con người. Bên cạnh đó, gan là cơ quan duy nhất trong cơ thể cùng một lúc tiếp nhận dòng máu từ 2 nguồn đến khác nhau (30% máu từ tim và 70% từ máu từ tĩnh mạch cửa). Máu đến từ tim mang theo các dưỡng khí và nhiên liệu để cung cấp và nuôi dưỡng các tế bào gan. Máu đến từ tĩnh mạch cửa, nhận máu từ những cơ quan như: dạ dày, lá lách, tụy tạng, túi mật, ruột (ruột non, ruột già)…Vì vậy, gan là cơ quan đầu tiên, kiểm soát, tiếp nhận các chất dinh dưỡng và độc tố khác nhau được hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa cho nên gan đã trở thành “nhà máy lọc máu” chính và quan trọng nhất của cơ thể con người.
Gan còn làm nhiệm vụ chế biến, tích lũy và điều hòa việc cung cấp năng lượng cho cơ thể vào những khi bị thiếu hụt. Gan có khả năng cân bằng hàm lượng các chất đường, đạm, mỡ và cholesterol, trigycerit trong cơ thể. Gan làm nhiệm vụ thanh lọc chất độc và đào thải qua hệ tiết niệu và hệ tiêu hóa. Vì vậy, các chất hấp thu từ thức ăn, nước uống và tất cả các nhiên liệu trước tiên sẽ phải đi qua gan để được thanh lọc và chế biến thành những vật liệu khác nhau giúp nuôi dưỡng cơ thể và đào thải các chất có hại ra ngoài. Do gan là cơ quan “đứng mũi chịu sào” cho nên tế bào ung thư từ nhiều cơ quan và bộ phận khác của cơ thể có thể lan sang gan (di căn) một cách dễ dàng.
Sự kỳ diệu của gan
Tiêm vắc-xin phòng viêm gan (A, B) để bảo vệ gan
Có thể nói một cách tổng quát, gan đóng một vai trò cực kỳ quan trọng của cơ thể để duy trì điều kiện sống của mỗi một cá thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tế bào gan có thể có tới 500 chức năng khác nhau, trong đó có rất nhiều chức năng vô cùng quan trọng, ví dụ, sản xuất và tiết mật cần thiết cho quá trình tiêu hóa mỡ bằng cách giáng hóa hemoglobin tạo nên các sản phẩm chuyển hóa đi vào dịch mật dưới hình thức các sắc tố mật. Một lượng mật có thể đổ thẳng từ gan vào tá tràng và một phần khác được trữ lại ở túi mật trước khi vào tá tràng.
Gan cũng đóng một số vai trò vô cùng quan trọng trong chuyển hóa carbohydrate như tổng hợp đường glucose từ một số amino acid, lactate hoặc glycerol. Gan đóng vai trò phân giải glycogen để sản phẩm tạo ra là glucose từ glycogen và bản thân gan cũng tạo được glycogen từ glucose. Gan cũng đóng vai trò giáng hóa insulin và các hoóc-môn khác trong cơ thể. Gan cũng là cơ quan tổng hợp nhiều loại protein và chuyển hóa protein thành các acid amin cần thiết cho cơ thể. Gan đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa lipid, tổng hợp cholessterol, sản xuất triglyceride. Nghiên cứu cho thấy các yếu tố đông máu như: fibrinogen, thrombin (prothrombin), yếu tố V, yếu tố VII, yếu tố IX, yếu tố X và yếu tố XI cũng như protein C, protein S và antithrombin đều do gan sản xuất và chuyển hóa amonniac thành urê. Bên cạnh đó, gan còn biết dự trữ một lượng lớn các chất khác nhau như glucose dưới dạng glycogen, vitamin B12, sắt và đồng. Ngoài ra, người ta còn thấy vai trò của gan kể từ lúc còn thai kỳ của một sinh linh. Cụ thể, trong ba tháng đầu tiên của thai kỳ, gan là nơi tạo hồng cầu chính cho thai nhi. Và gan còn tham gia vào quá trình sinh miễn dịch, biểu hiện là hệ thống lưới nội mô của gan chứa rất nhiều tế bào có thẩm quyền miễn dịch có khả năng phát hiện những kháng nguyên lạ trong dòng máu do tĩnh mạch cửa mang đến. Với đa chức năng của gan thì không có một cơ quan nhân tạo nào có thể đảm trách được toàn bộ chức năng vô cùng phức tạp của nó.
Tóm lại, gan đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sức khỏe của chúng ta. Gan được so sánh như người lính dũng cảm, canh gác những tiền đồn, giao tranh và phân giải tất cả các hóa tố đến từ hệ thống tiêu hóa, cũng như những cặn bã từ những hệ thống khác lưu lạc trong máu.
Tuy nhiên, gan cũng có thể bị tàn phá bởi độc tố, vi khuẩn, virút (virút viêm gan A, B, C, E…), ký sinh trùng (lỵ amip, ký sinh trùng sốt rét), rượu, bia, các chất giải khát có cồn và nhiều bệnh tật khác nhau. May mắn thay, với khả năng tự tái tạo, trong đa số trường hợp viêm gan trường diễn (mãn tính), gan vẫn tiếp tục hoạt động một cách tương đối bình thường trong một thời gian lâu dài.

TS. BS. Bùi Mai Hương

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Giun chui ống mật gây đau bụng

Hỏi: Bé nhà tôi dù tẩy giun định kỳ mỗi 6 tháng nhưng có lần đau bụng được nghi ngờ là do giun và phải theo dõi có phải giun chui ống mật không. Xin cho biết tại sao giun lại chui được vào ống mật và biểu hiện ra sao ?
(Nguyễn Hồng Thúy - Đồng Nai)
Giun chui ống mật gây đau bụng
Nên tẩy giun định kỳ và ăn uống hợp vệ sinh
Trả lời: Giun chui ống mật là một chứng bệnh hay gặp trước đây do tỉ lệ nhiễm giun rất cao. Ngày nay bệnh này ít gặp hơn vì người dân ý thức hơn với việc tẩy giun định kỳ và ăn uống hợp vệ sinh. Giun đũa là loài ký sinh trong ruột non của người, chúng có kích thước bằng chiếc đũa (khoảng 20 - 25cm), giunsống bằng cách chất dinh dưỡng ở ruột nên gây ra tình trạng suy dinh dưỡng (nhất là ở trẻ nhỏ). Giun đũa ở ruột cũng gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa, người bị nhiễm có thể đau bụng mơ hồ, ăn uống khó tiêu, buồn ói… Ở một điều kiện nào đó giun di chuyển ngược lên trên đến tá tràng rồi chui vào ống dẫn mật sẽ gây ra tình trạng tắc mật.
Người ta cho rằng, khi số lượng giun ở ruột tăng lên cùng với môi trường dịch tiêu hóa thay đổi sẽ làm chúng di chuyển ngược lên phía trên. Một số trường hợp giun chui lên đường mật không gây ra triệu chứng gì và chúng chết tại đây, các chất đường mật kết dính vào giun tạo thành sỏi đường mật. Trong trường hợp giun chui lên đường mật và làm tắc mật cấp tính làm cho bệnh nhân có những cơn đau quặn dữ dội, đột ngột. Đau ở vùng trên rốn, hơi lệch về bên phải. Bệnh nhân buồn nôn, nôn nhiều và có khi chất nôn có cả giun. Tất nhiên giun đi từ ruột lên đường mật sẽ mang theo vi khuẩn và gây ra nhiễm trùng đường mật. Một tư thế đau bụng cổ điển do giun chui ống mật được ghi nhận là bệnh nhân đau bụng chổng mông lên trời. Thường chẩn đoán giun chui ống mật với cơn đau quặn mật, hội chứng nhiễm trùng và dùng siêu âm xác định tắc nghẽn đường mật (đôi khi phát hiện ra giun).
Trong cơn đau bụng cấp, bệnh nhân sẽ được điều trị triệu chứng đau, nhiễm trùng và thuốc tẩy giun.
Trong trường hợp tắc nghẽn cấp tính đường mật có khi phải phẫu thuật dẫn lưu đường mật và giải phóng tắc nghẽn. Quan trọng là phải ăn uống hợp vệ sinh, tẩy giun định kỳ mỗi 6 tháng hoặc 1 năm.

Bs.CkII. Đặng Minh Trí
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons